Saturday, May 15, 2010

Việt Nam trên đường chúng ta đi 3


Eo ôi em sấu hổ lắm

Chả hiểu nỗi buồn có giống con cu hay không nữa

Nguyễn Trải là ông nào vậy ta?

Xai dồi xai dồi!

Xai thì xai không xợ!

Anh ớc ao đợc yêu em như yêu đất nớc!

Trứng tỏ xở văn hoá có chình độ cao!

Hu hu chả biết thủ đô nào được giải phóng ngày 30 tháng 4

Lòng ta dưng dưng buồn

Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ!- Câu ni e sai rồi!

Nàm báo cũng nàm thế lày!


http://quechoablog.wordpress.com/2010/05/15/viet-nam-tren-duong-chung-ta-di-3/

Tuesday, May 11, 2010

Ls. Công Nhân đoạt giải Gwangju và Biến sự "518"

LS Lê Thị Công Nhân đoạt giải Nhân Quyền Gwangju




Nhân dịp tuyên bố và trao giải Nhân Quyền Gwangju cho Luật sư Lê Thị Công Nhân, kỷ niệm biến cố " Thảm Sát Gwangju " tại Nam Hàn, trong tuần lễ biểu tình, 18-5 đến 27-5 năm 1980 (hay còn gọi "biến sự 518"),vào 30 năm về trước.


Hai tháng sau khi TT. Park Chung Hee bị ám sát, ngày 12/12/1979 tướng độc tài của Nam Hàn, Chun Doo-Hwan, thực hiện cuộc đảo chánh chống lại TT bất lực lúc đó, Choi Kyu-Hah, và đem chính tình Nam Hàn vào thảm trạng độc tài quân phiệt. Trong lúc chính tình Hoa Kỳ cũng rất nhiêu khê, dưới thời TT. Jimmy Carter.
Vào ngày 18/5/1980 sinh viên Đại Học Quốc Gia Chonnam xuống đường chống nhà độc tài quân phiệt này , và chỉ vài ngày sau, quần chúng và giới trẻ tham gia dữ dội, con số biểu tình đã lên tới cà trăm ngàn người, làm tê liệt sinh hoạt Nam Hàn, nhất là tại thị trấn Gwangju.


Cuộc biểu tình kéo dài 9 ngày, cho đến 27/5/1980. Cuộc đàn áp đẫm máu, có hay không có sự đồng ý của Hoa Kỳ, ít hay nhiều sự nhúng tay của Bắc Hàn, đã chấm dứt. Tổng số thiệt hại bị dấu diếm trong nhiều năm, con số tiết lộ năm năm sau gồm có 207 người chết, 2392 bị thương, 987 mất tích.


Sau này nhà độc tài họ Chun và TT sau đó đã bị kết tội nặng trong vụ thảm sát này.


Bảy năm sau, 3 tổ chức ra đời, Diễn Đàn Nhân Quyền Gwangju, Học Viện Dân Dã Gwangju và Giải Thưởng Nhân Quyền Gwangju ra đời. Mục đích là vinh danh những người hy sinh trong biến sự "518", tỉnh thức Dân Chủ và Dân Quyền, và kêu gọi toàn bộ Á Châu cùng học bài học " từ Độc Tài - cho Dân Chủ ".
Biến cố Thiên An Môn sau này, tương tự như thế, xẩy ra. Hụt hẫng. Vô vọng. Lỗ trống.


Hàng năm, mỗi tháng 11, Viện Nghiên Cứu Nhân Quyền Gwangju kêu gọi danh sách ứng viên cho giải này. Đến tháng 3 năm sau đúc kết, và cuối tháng 4 ( đầu tháng 5 ) tuyên bố kết quả để cho người đọat giải nhận giải thưởng cao quý này đúng vào "518" ( ngày 18 tháng 5 ), ngay tại thị trấn Gwangju, Nam Hàn.


Giải thưởng Nhân Quyền Gwangju vinh danh " cá nhân hay tổ chức đã hy sinh miệt mài cho công trình chống lại độc tài áp bức". Những năm trước, lãnh tụ đấu tranh như Xanan Gusman ( Đông Timor ), Daw Aung Sun Sư Kyìi ( Miến Điện ), Wardah Hafidz ( Nam Dương ), Malalai Joya ( A Phú Hãn ), Irom Shatmila (Ấn ) đã thay nhau nhận giải.


Giải thưởng gồm một Huy Chương Vàng, một Bảng Tưởng Lục, và hiện kim là 50 triệu "Quan " Nam Hàn ( khoảng US$50,000. ).


Năm nay, qua tin tức loan tải hôm qua, Luật sư Lê Thị Công Nhân là người trúng giải. Luật sư Lê Thị Công Nhânđược tiến cử bởi Dân biểu Ed Royce ( Đảng CH, Nam California ) Hạ Viện Liên Bang Hoa Kỳ, Quản Hạt Cư Dân 47, vào cuối 2008 đầu 2009.

Chúc mừng Luật sư Lê Thị Công Nhân!



ĐQ/HTD

http://dongathi.multiply.com/journal/item/1720

Monday, May 10, 2010

CHUẨN BỊ TỐT ĐẤU TRANH QUÂN SỰ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

(Bình luận của Trung Quốc đăng trên trang web Nhân DânHoàn cầu thời báo Trung Quốc ngày 29/4/2010 lộ rõ bản chất tham tàn, diều hâu của giới quân phiệt Bắc Kinh...Hy vọng bài viết sẽ làm tỉnh ngộ những ai còn nuôi ảo mộng: Có thể dựa vào "ông bạn mạ 16 chữ vàng" Bắc Kinh để kiếm chác...)

http://vietinfo.eu/images/uploads/News//2010/04/88761/thumb.jpg

Hiện nay tình hình Biển Đông ngày càng phức tạp nghiêm trọng. Về kinh tế một số quốc gia không ngừng tăng nhanh tiến hành khai thác kiểu ăn cướp tài nguyên Biển Đông của chúng ta (Trung Quốc - ND): về quân sự hải quân một số quốc gia xung quanh Biển Đông không ngừng mua sắm hạm tầu và máy bay tác chiến có tính năng tiên tiến; về chính trị, có quốc gia ý đồ đẩy tranh chấp Biển Đông thành quốc tế hoá và liên minh hoá. Ngoài ra nước Mỹ dưới sự giúp đỡ của các nước đồng minh như Singapore và Philippine đã tăng cường sự tồn tại quân sự tại Biển Đông, đồng thời có kế hoạch trở lại vịnh Cam Ranh, nhằm tiến tới sát đường ráp ranh cận hải của ta. Vì thế vấn đề tranh chấp chủ quyền của các đảo và lãnh hải của Trung Quốc kéo dài đã lâu không giải quyết đang trở thành sự thách thức song trùng đối với an ninh kinh tế và an ninh quốc phòng nước ta. Giải quyết hoàn cảnh khó khăn của Biển Đông phải có suy nghĩ mới và biện pháp mới, càng cần phải quán triệt vào hành động cụ thể.

Một là chế định chiến lược khai thác tài nguyên Biển Đông, khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc tiến hành lợi dụng và khai thác tài nguyên dầu khí và tài nguyên nghề cá tại Biển Đông. Phải từ độ cao chiến lược an ninh kinh tế và phát triển lâu dài của quốc gia để nhìn nhận tỉ mỉ vai trò quan trọng của tài nguyên Biển Đông đối với việc xây dựng kinh tế nước ta, qui hoạch thống nhất chiến lược phát triển, mục tiêu phát triển và các buớc đi phát triển đối với tài nguyên dầu khí và tài nguyên nghề cá Biển Đông, chế định cưong yếu thực thi tỉ mỉ, thiết thực, cung cấp sự ủng hộ vững chắc về tài chính và thu thuế cho các doanh nghiệp tham gia khai thác tài nguyên Biển Đông. Đồng thời quốc gia phải vì các xí nghiệp tham gia khai thác tài nguyên Biển Đông hình thành cơ chế liên động đối với các cơ cấu chức năng như an ninh môi trường sản xuất, biên phòng, hải tặc, ngư chính, quân đội v.v., có thể xử trí kịp thời có hiệu quả các loại sự kiện xung đột, bảo vệ nhân viên, thiết bị và tài sản tham gia khai thác tài nguyên Biển Đông không bị xâm hại phi pháp.

Hai là, nâng cao sức mạnh chấp pháp hải dương vùng Biển Đông, kiên quyết đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm quyền lợi hải dương của ta. Lâu nay sự khoan dung và nhân nhưọng một cách lịch sự của chúng ta trên vấn đề Biển Đông không đổi lại sự tôn trọng cần phải có, ngược lại một số nước đã coi nhân từ là mềm yếu điên cuồng cướp đoạt ngày càng nghiêm trọng hơn tài nguyên dầu khí và nghề cá của ta, nhiều lần tiến hành bắt giữ và giam cầm ngư dân ta đang tác nghiệp hợp pháp, thậm chí làm tổn hại về người. Vì thế, phải gia tăng sức mạnh chấp pháp hải dương tại vùng Biển Đông, xua đuổi và bắt giữ kịp thời những thuyền cá tác nghiệp phi pháp tại vùng biển của ta, đồng thời căn cứ vào luật pháp có liên quan của Trung Quốc tiến hành xử lý, và cũng phải tiến hành hành động chống bắt giữ, chống xua đuổi, nhằm bảo đảm an ninh cho ngư thuyền tác nghiệp nuớc ta. Ngày 1 tháng 4 năm nay, Ngư Chính Trung Quốc tổ chức hai chiếc tầu bảo vệ cá lớn đến Trường Sa bảo vệ cá, mở ra một chương mới trong chấp pháp hải dưong Biển Đông. Phải hình thành chế độ các hành vi bảo vệ cá và duy trì chủ quyền đó để tiếp tục kiên trì, nhằm thực hiện được chấp pháp không gián đoạn trong toàn lãnh hải trong mọi ngày đêm. đồng thời thực hiện đột phá trong việc tổ thành lực lượng, đối tượng chấp pháp và hình thức chấp pháp.

Ba là, tăng cường sự tồn tại quân sự tại các đảo, bãi ở Biển Đông, để chuẩn bị tốt đấu tranh quân sự cho việc giải quyết về căn bản, cảnh khó ở Biển Đông. Biển Đông vừa là con đưòng vận chuyển quan trọng năng lượng và mậu dịch trên biển của nước ta, vừa là chiếc cửa để hải quân nước ta đi ra Ấn Độ dưong, liên quan tới lợi ích hạt nhân của nước ta, vì thế việc thu hồi các đảo bãi và lãnh hải bị các nước khác xâm chiếm không thể không có thời gian biểu. Trước việc đảo bãi nuớc ta bị một số nước xung quanh xâm chiếm phi pháp và không ngừng củng cố hạ tầng quân sự, tăng cưòng thực lực hải quân, chúng ta cũng cần phải tăng cường một cách tương ứng xây dựng các công trình quân sự tại vùng đảo bãi Biển Đông, phải đổi mới trang bị vũ khí cho bộ đội giữ đảo giữ bãi, gia tăng dự trữ vật tư chiến lược. Chúng ta không từ bỏ sử dụng phương thức hiệp thương và đàm phán để giải quyết tranh chấp Biển Đông, nhưng cũng không thể ảo tưởng rằng những đảo bãi đã bị xâm chiếm có thể trở về với vòng tay tổ quốc một cách hoà bình.

Tóm lại không hề có chứng cớ nào biểu thị rõ, giao vấn đề Biển Đông cho con cháu đời sau giải quyết sẽ có lợi hơn, ngược lại việc một số nước lớn đứng sau lưng thọc tay vào sẽ làm cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông càng ngày càng khó. Điều then chốt chỉ có ở chỗ dám có đột phá trên hành động cụ thể, chỉ có như vậy mới có thể ngăn chặn biển nam Trung Quốc biến thành biển “khó”Trung Quốc (một cách chơi chữ, không dịch được vì chữ nam và chứ khó trong tiếng Trung phát âm gần như nhau)

Dương Danh Dy (dịch)

8-5-10

http://vn.360plus.yahoo.com/phamvietdaonv/article?mid=4964

Friday, May 7, 2010

Câu hỏi gởi các bác trong Ban biên tập và các bạn đọc mạng Bô-xít Việt Nam

Hoàng Dzung


Một người bạn tôi có một cậu con rể người nước láng giềng đã vào quốc tịch Việt Nam từ hơn 1 năm nay và đang làm nghề đánh cá ở biển Đông (nghề truyền thống của gia đình cậu ấy trước khi về Việt Nam). Dù là có mẹ người gốc Việt, nhưng bà mẹ ấy xa xứ đã rất lâu nên con bà chỉ mới học bập bẹ tiếng Việt kể từ khi lấy vợ Việt Nam. Cậu ấy may mắn đã trốn thoát khi bị “tàu lạ” vây bắt ở biển Đông và hiện nay vẫn chưa hoàn hồn về câu chuyện kinh hoàng ấy.

Thấy tôi có chút ít chữ nghĩa, cậu ta có đặt ra cho tôi một câu hỏi. Nhưng chữ nghĩa của tôi cũng có hạn nên không thể trả lời thỏa đáng được, đành phải nhờ các bác trong Ban biên tập và bạn đọc mạng Bô- xít Việt nam xem qua, may ra các bác có câu trả lời thỏa đáng hơn chăng!

Cậu ấy hỏi rằng:

- Con thấy bọn người vây bắt chúng con nói tiếng Tàu. Con không hiểu nhiều, nhưng tiếng Tàu này thì con quen lắm. Tại sao báo chí và người phát ngôn của Việt Nam lại gọi chúng là “Tàu lạ”? Ai còn lạ gì người Tàu, sao không gọi là “Tàu quen” hay là người Trung Quốc cho dễ hiểu?

Vì cậu ấy mới học tiếng Việt nên không phân biệt “Tàu lạ” là chiếc tàu, hay nước Tàu; cậu ta lại ngỡ rằng tên gọi “Tàu lạ” là một danh từ khác để chỉ người Trung Quốc, hay nước Trung Quốc, nên cứ mỗi khi nói đến nước Trung Quốc và người Trung Quốc thì cậu ấy cứ nói là nước “Tàu lạ” hay người “Tàu lạ”. Đó là chưa kể cậu ấy đã không hỏi nước “Tàu lạ” còn có một tên nữa là nước “Tượng hình” có phải không, vì trên báo chí còn nói dòng chữ Trung Quốc ghi trên quả thủy lôi mà ta vớt được là những chữ tượng hình để tránh đi việc phải nói ra sự thật.

Tôi không vội trả lời cho các câu hỏi trên vì chưa biết phải trả lời thế nào, trong đầu lại nghĩ đến hai câu chuyện sau đây:

Câu chuyện thứ nhất kể về một vị cao tăng dẫn đệ tử xuống núi đi xem thực địa. Các đệ tử của ngài là những chú tiểu còn ở tuổi vị thành niên, được đưa lên chùa qui y nhà Phật từ tấm bé và đây là lần đầu tiên họ được xuống núi. Dọc đường các nhà tu hành trẻ này gặp một thiếu nữ đi qua, một sinh vật lạ mà từ trước đến nay họ chưa từng thấy bao giờ, bởi vì trong chùa đến lúc ấy chỉ có mặt toàn những nhà sư, những chú tiểu mà thôi. Khi nàng đi khuất, các chú tiểu còn ngẩn ngơ, ngây ngất nhìn theo như những người bị hốt hồn. Các vị thiếu niên bèn hỏi sư phụ:

“Thầy ơi, đấy là con gì vậy?”

Sợ đệ tử bị sắc dục chi phối, vị sư phụ bèn nói:

“Cọp dữ đó các con, chớ nhìn theo mà nguy hiểm!”.

Cuối ngày tham quan xong, sư phụ bèn hỏi các đệ tử:

“Hôm nay đi chơi các con thấy có gì thích nhất?”

Các đệ tử đồng thanh trả lời:”Thưa thầy, cọp dữ là thích nhất ạ!”.

Câu chuyện thứ hai cũng nói về con cọp. Ngửi thấy hơi cọp là chó trong làng cóng chân vừa bò vừa lết để chạy trốn. Nghe tiếng cọp gầm là những kẻ yếu bóng vía và trẻ con đã sợ vãi đái ra quần. Trong dân gian kẻ yếu bóng vía và người mê tín vẫn tránh đi tiếng cọp mà gọi trệch là “Ông ba mươi” để khỏi vãi đái ra quần.

Chẳng lẽ tôi lại nói rằng các nhà lãnh đạo, các nhà ngoại giao lẫn nền báo chí nước nhà hiện nay “dũng cảm” đến mức không dám gọi cọp mà phải gọi trệch đi là “Ông ba mươi” để khỏi vừa bò vừa lết và khỏi phải vãi đái ra quần? Vì vậy nên tôi đã ngọng lưỡi mà chưa trả lời được câu hỏi do chú rể người ngoại quốc đã đặt ra cho tôi. Tôi đành phải chuyển câu hỏi khó “xơi” này cho quí Ban biên tập và quí độc giả của trang mạng BVN để cầu viện.

Nếu các vị cũng líu lưỡi như tôi thì xin hãy chuyển tiếp cho các nhà lãnh đạo đáng kính và các nhà ngoại giao khả ái, cũng như các nhà báo, nhà đài chính thống đáng bái phục của đất nước chúng ta, may ra họ trả lời được chăng?


Nếu họ cũng líu lưỡi nốt thì chắc chúng ta chỉ còn cách “Bắc thang mà hỏi Ông Trời“ thôi , mặc dù biết chắc chắn câu trả lời của Ông Trời sẽ là:

“Sao các anh không biết xấu hổ? Thế mà cũng xưng là con Lạc cháu Hồng!”

Kính thư

HD


Thư thứ hai - Nghĩ về đảng viên

Tiến Nguyễn


Hẳn nhiên tôi hiểu rằng các vị đảng viên đâu cần biết tôi nghĩ gì về họ, nhưng vì quá bức xúc với tiêu đề bài báo của ông Trương Duy Nhất “Nhiều đứa đảng viên phải gọi là thằng” mà tôi viết thư này đến BBT Bauxite Việt Nam mong giãi bày một vài ý nghĩ của tôi.

Ai cũng hiểu đảng viên được nói đến trong bài báo này là đảng viên của Đảng CSVN, vì ở nước ta hiện nay chỉ có một đảng duy nhất đó được hoạt động. Có thể nói rằng trong bất kỳ một nhóm người nào cũng có người tốt kẻ xấu, “những kẻ phải gọi bằng thằng”, nên chữ đảng viên trong bài báo của ông Trương Duy Nhất có thể hiểu là đảng viên của một đảng bất kỳ nào cũng được. Vậy hà cớ gì mà ông Nhất lại thốt lên những lời đầy giận dữ và thất vọng như vậy với các đảng viên của Đảng CSVN? Phải chăng ông giận vì đã quá yêu, ông thất vọng vì đã quá kỳ vọng? Nếu đúng như vậy tôi muốn được chia sẻ cùng ông vài cảm nghĩ.

Chúng tôi, những thanh niên của thập kỉ 60 thế kỉ trước được dạy rằng Đảng là đạo đức là văn minh. Trong các cơ quan đoàn thể một điều được mặc nhiên thừa nhận là: đảng viên là những người tốt, còn quần chúng (người ngoài Đảng) là những người chưa tốt. Đảng viên phải kèm cặp giúp đỡ quần chúng mau tiến bộ, quần chúng thì rèn luyên tư tưởng đạo đức, phấn đấu công tác để được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng. Nhiều người phấn đấu rèn luyên hàng chục năm trời cũng không đủ tiêu chuẩn được trở thành đảng viên. Nói vậy mới hiểu được sự giận dữ của ông Nhất (mà không chỉ của ông Nhất) trước sự tha hóa suy đồi của “nhiều đứa đảng viên” (chữ của ông Nhất) hiện nay.


Tuy nhiên, ngày nay điều mặc nhiên được thừa nhận của thế kỷ trước đã không còn được xã hội thừa nhân. Bởi vậy mới có câu như “thằng ấy đảng viên nhưng mà tốt”. Sự thay đổi nhận thức đó không chỉ ở những quần-chúng-phấn-đấu-mãi-không-được-vào-đảng, mà ở ngay cả những đảng viên nữa. Nhiều đảng viên không còn tự hào về danh hiệu đảng viên của mình. Một số đồng nghiệp là đảng viên của tôi bức xúc về tấm thẻ đảng khi về hưu: làm như Phạm Đình Trọng thì căng quá mà ảnh hưởng đến con cái, còn tiếp tục sinh hoạt ở chi bộ hưu thì…


Tất nhiên vẫn đang còn rất nhiều người phấn đấu vào Đảng, nhưng chắc không phải để trở thành người tốt nhất trong những người tốt, mà vì đó là điều kiện cần cho sự tiến thân. Trong hệ thống công quyền của nước ta, một chức vụ dù nhỏ cũng phải do đảng viên đảm nhiệm. Không thể nói động cơ vào Đảng của những người trẻ tuổi hiện nay là không tốt, vì nguyện vọng vươn lên một vị trí cao trong xã hội là chính đáng.


Còn nhớ trong thời kỳ Perestroika của Liên Xô trước đây, các nhà toán học Xôviết có nêu lên một định lý như sau.


Định lý: Nếu hai trong ba mệnh đề sau đây là đúng thì mệnh đề còn lại là sai:

1. Tôi là người tốt.

2. Tôi là người thông minh.

3. Tôi là người cộng sản.


Trong số những người đã, đang và sẽ giơ nắm tay lên thề trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin không hiểu có bao nhiêu người còn tin tưởng vào chủ nghĩa này nữa? Và có bao nhiêu người dám đối mặt với sự thật đó?

TN


http://boxitvn.blogspot.com/2010/05/chum-thu-ban-oc.html