Showing posts with label Đảng Cộng sản Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Đảng Cộng sản Việt Nam. Show all posts

Wednesday, April 28, 2010

Phụ Nữ Bị Công An Bắt Cóc Tại Bangkok Bị Đưa Về Saigon Và Kết Tội Âm Mưu Khủng Bố Ngày 30 Tháng 4

Tin Saigon - Như tin SB-TN đã loan về trường hợp bà Phạm Thị Phượng đã cùng ông chồng chạy trốn sang Cam Bốt rồi sau đó sang tới Thái Lan, hai người đã được Cao Ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc cấp thẻ tỵ nạn và sinh sống tại Thái Lan một thời gian, nhưng nay đã bị Công an Cộng sản Việt Nam lẻn sang tới Bangkok và bắt đưa về nước. Báo chí trong nước hôm nay đăng tin tố cáo bà Phượng là được giao dùng chất nổ phá tượng đài Hồ Chí Minh và một số bệnh viện, trường học tại Saigon nhân dịp lễ 30 tháng 4.

Bản tin đã dựng đứng những chi tiết để kết tội người phụ nữ cao niên đã 65 tuổi này, khi cho rằng bà đã quen với ông Nguyễn Công Bằng từ hải ngoại và được hứa hẹn sẽ giúp bà và gia đình được định cư ở nước thứ ba. Bản tin đã bịa ra chuyện bà Phượng được huấn luyện cách liên lạc, sử dụng thuốc nổ, vũ khí để hoạt động khủng bố phá hoại tại Việt Nam, và đưa tiền cho bà này về nước để thực hiện kế hoạch.

Bà này đã bị bắt khi âm mưu thực hiện kế hoạch này là mua và sử dụng thuốc nổ để phá tượng đài Hồ Chí Minh và gây nổ ở nhiều địa điểm công cộng như nhà ga, bến tàu, bệnh viện, trường học nhằm làm rối loạn, mất ổn định xã hội, đồng thời châm ngòi cho phong trào nổi dậy chống nhà nước. Tuy nhiên sự thật lại hoàn toàn trái ngược, bà Phượng bị Công an phục kích bắt giữ tại Bangkok rồi đưa về nước bằng đường bộ, và đọc bản tin thì không ai có thể tin rằng một người phụ nữ yếu đuối cao niên như vậy có thể một mình đặt chất nổ ở nhiều địa điểm cùng một lúc như lời tố cáo.

http://www.sbtn.net/default.aspx?LangID=38&tabId=193&ArticleID=49061

Monday, April 26, 2010

Làm sao chúng tôi tin…

Gần đây Bộ Ngoại Giao Việt Nam có những lời phản đối Trung Quốc giành chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; có nhiều cố gắng ngoại giao để quốc tế hoá các tranh chấp vùng biển Đông; nhà nước ký hợp đồng mua tàu ngầm và máy bay tối tân của Nga Xô như để bảo vệ lãnh hải.


Những hành động đó rất tích cực so với thái độ thụ động và yếu ớt trước đây. Tuy nhiên nhà cầm quyền có thể thực hiện hai điều đơn giản để thu phục lòng tin của dân chúng trong và ngoài nước:


  1. Trả tự do cho nhà báo Điếu Cày và cô Phạm Thanh Nghiêm là hai người bị bỏ tù chỉ vì nói lên sự thật “Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam”
  2. Cho phép thanh niên sinh viên biểu tình trong nước để phản đối chính sách xâm lấn của Trung Quốc.


Nếu nhà nước e ngại nhiều biến động ảnh hưởng đến mối liên hệ với Bắc Kinh – chúng tôi hiểu thế khó khăn của nước nhỏ chỉ mong muốn hoà bình như cha ông ta đã nhẫn nhịn (nhưng không khuất phục) hàng ngàn năm nay – riêng tôi không phản đối giới hạn các cuộc biểu tình trong vòng 20, 30 chục người cho tránh gây xáo trộn. Cũng không cần phải tổ chức trước toà Đại Sứ hay Lãnh Sự của Trung Quốc để tránh những khiêu khích không cần thiết, mà chỉ trong khuông viên trường học hay ngoài đường phố cũng đủ.

Chúng tôi chỉ tin nhà nước Việt Nam có thực tâm và khả năng bảo vệ lãnh hải khi để dân chúng được quyền bày tỏ lòng yêu nước!

Chúng ta không thể trông cậy vào ngoại lực: Hoa Kỳ, các nước Đông-Á không chịu áp lực trực tiếp từ Trung Quốc như Việt Nam, và họ có thể thay đổi chính sách tuỳ theo mối tương quan với Trung Quốc.


Chúng ta không thể trông cậy vào vũ khí: phương tiện quân sự của Trung Quốc chiếm ưu thế tuyệt đối ngoài biển Đông ngay cả sau khi Quân Đội Nhân Dân canh tân trong nhiều năm nữa.

Tất nhiên chúng ta vẫn phải vận động sự hậu thuẩn của quốc tế và tăng cường quốc phòng cho dù thế yếu. Nhưng chỉ có một sức mạnh duy nhất và không bao giờ thay đổi là lòng yêu nước của dân tộc Việt. Nhà cầm quyền hãy để dân chúng bày tỏ lòng yêu nước và tình đoàn kết để bảo vệ và xây dựng đất nước.


Riêng tôi đã nghe người dân trong nước nói: “Bảo vệ Trường Sa Hoàng Sa để làm gì (!) Có giành được rồi thì mấy “ổng” cũng đem bán và chia chác nhau ăn hết chớ làm gì đến dân”

Đất nước này không phải của riêng ai. Chỉ có tình đoàn kết và lòng yêu nước của toàn dân mới giữ vững giang sơn.


© Đoàn Hưng Quốc


http://www.danchimviet.com/archives/7349

Sunday, April 25, 2010

Bài viết của ký giả Frank Ching trên Tạp chí Kinh tế Viễn Ðông đề cập đến Công Hàm Bán Nước

Vấn đề Tranh chấp Chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa
Saigon - Hanoi - Paracels
Islands Dispute – 1974

Frank Ching (Far Eastern Economic Review, Feb. 10, 1994)

1) Tái thẩm định miền Nam Việt Nam

Chỉ có một số ít các chính phủ sẵn sàng thú nhận rằng họ đã phạm phải sai lầm, ngay cả khi những chính sách của họ cho thấy điều đó một cách rất rõ ràng. Lấy thí dụ như Việt Nam chẳng hạn

Khi nước CHXHCN Việt Nam đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội trên tất cả mọi mặt, ngoại trừ cái tên, thì họ vẫn ngần ngại không muốn thú nhận điều này. Chính sách kinh tế thị trường mà họ đang theo đuổi, dù sao, đã nói lên điều ngược lại.

Trong những năm chiến tranh, những trận đánh chống lại quân đội Mỹ và quân đội miền Nam Việt Nam, đã được chiến đấu dưới danh nghĩa của chủ nghĩa xã hội và nhận được sự ủng hộ của toàn thể thế giới cộng sản, đặc biệt là từ Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa.

Những trận đánh này đã đòi hỏi một sự hy sinh nặng nề về xương máu và tài nguyên của đất nước, là một cái giá mà người Việt Nam vẫn tiếp tục phải trả cho đến ngày hôm nay khi nhà nước CSVN đang cố gắng, một cách rất muộn màng, đặt việc phát triển kinh tế lên trên ý thức hệ chính trị. Cái ý thức hệ đó trong quá khứ đã buộc Hà Nội phải lựa chọn những chính sách mà khi nhìn lại thì không có vẻ gì là khôn ngoan cả. Và việc bóp méo ý thức hệ này đã gây cho họ nhiều thứ rắc rối khác hơn là chỉ đưa họ vào tình trạng khó xử với các đồng chí cộng sản đàn anh của họ ở Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh. Ðôi khi nó cũng làm mờ mắt họ về những lập trường đứng đắn được khẳng định bởi kẻ thù của họ là chính phủ Sài Gòn .

Trong những ngày đó, chế độ Hà Nội rất hăng hái trong việc lên án chính quyền miền Nam, cho họ là những con rối của Mỹ, là những kẻ đã bán đứng quyền lợi của nhân dân Việt Nam. Ngay cả lúc đó, một điều rõ ràng là những lời cáo buộc này đã không có căn cứ. Bây giờ, 20 năm sau, cũng lại một điều rõ ràng là đã có những lúc mà chính quyền Sài Gòn đã thật sự đứng lên cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam, một cách vô cùng mạnh mẽ, hơn xa cả cái chính quyền tại Hà Nội.

Một trường hợp để chứng minh cụ thể là vụ tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa trên biển Nam Trung Hoa. Quần đảo Hoàng Sa, giống như quần đảo Trường Sa ở xa hơn về phía Nam, được tuyên bố chủ quyền bởi cả hai Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng khi chế độ Hà Nội vẫn đang nhận viện trợ từ Bắc Kinh, thì họ im hơi lặng tiếng trong việc tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Quần đảo này đã bị chiếm đoạt bởi Trung Quốc sau một vụ đụng độ quân sự vào tháng Giêng năm 1974, lúc quân Trung Quốc đánh bại những người tự bảo vệ từ miền Nam Việt Nam. Từ đó, quần đảo này đã nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc.

Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, có một sự bất đồng nhanh chóng giữa Bắc Kinh và Hà Nội, và chính quyền Hà Nội - vừa mới thống nhất với miền Nam - lại tái tuyên bố chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa. Mặc dù đã có những cuộc đàm phán cao cấp giữa hai nước, nhưng vụ tranh chấp này vẫn chưa được giải quyết. Các chuyên gia của hai nước có hy vọng là sẽ gặp gỡ sớm sủa hơn để bàn thảo về những vấn đề chuyên môn, nhưng không chắc chắn là sẽ có một quyết định toàn bộ . Thật ra, một viên chức cao cấp của Việt Nam đã thú nhận rằng vấn đề sẽ được giải quyết bởi các thế hệ tương lai.

Dù không muốn phán đoán về những giá trị của lời tuyên bố chủ quyền của bất cứ bên nào, một điều rõ ràng là cương vị của phía Việt Nam đã bị yếu thế hơn vì sự im hơi lặng tiếng của Hà Nội khi quân đội Trung Quốc chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa. Sự thiếu sót của Hà Nội để phản đối trước hành động quân sự của nước ngoài bây giờ được dùng để quật ngược lại Việt Nam mỗi khi đề tài trên được nêu ra.

Giới thẩm quyền Việt Nam ngày hôm nay giải thích sự im lặng của họ vào thời điểm đó bằng cách nói rằng họ đã phải dựa vào viện trợ của Trung Quốc trong cuộc chiến chống Mỹ, vốn là kẻ thù chính yếu của họ lúc đó. Vậy thì một điều chắc chắn là, khi chiến tranh càng được chấm dứt sớm hơn thì quan hệ hữu nghị giữa Hà Nội và Bắc Kinh cũng như vậy .

Cộng thêm vào đó là những điều bị bóp méo mới toanh mà Hà Nội phải dùng đến để tăng thêm giá trị cho lời tuyên bố về chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa. Bởi vì sự im lặng đồng ý ngầm trong quá khứ mà Hà Nội bó buộc phải tránh không dám dùng những lời tuyên bố chính thức của họ từ thập niên 1950 đến thập niên 1970, mà phải dùng những bản tuyên bố của chế độ Sài Gòn - tức là công nhận tính hợp pháp của của chính phủ miền Nam. Một cách rất sớm sủa, như vào năm 1956, chính phủ Sài Gòn đã công bố một thông cáo chính thức xác nhận chủ quyền của mình trên Hoàng Sa và Trường Sa.

Chế độ Sài Gòn cũng công bố một nghị định để bổ nhiệm nhân sự hành chánh cho quần đảo Hoàng Sa. Cho đến khi họ bị thất bại bởi lực lượng quân sự Trung Quốc vào năm 1974 (chỉ vài tháng trước khi miền Nam Việt Nam bị sụp đổ trước sự tấn công của cộng sản từ miền Bắc), thì chính phủ Sài Gòn vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa.

Trong vài năm vừa qua, nước Nam Dương (Indonesia) đã bảo trợ cho các buổi hội thảo với tính cách phi chính phủ về vùng biển Nam Trung Hoa. Tại các buổi hội thảo lúc có lúc không này, phía Việt Nam một lần nữa lại thấy bối rối khi được yêu cầu giải thích về sự im lặng của họ hồi đó, khi Trung Quốc nắm giữ cái mà Việt Nam bây giờ tuyên bố là một phần của lãnh thổ họ. “Trong thời gian này”, họ nói, “có những tình trạng rắc rối về chính trị và xã hội tại Việt Nam, cũng như trên thế giới, mà phía Trung Quốc đã lợi dụng, theo từng bước một, để dùng biện pháp quân sự chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Và Trung Quốc đã thu gọn toàn bộ Hoàng Sa vào năm 1974.”

Với lợi thế của hai thập niên về lịch sử, bây giờ có thể thẩm định được những hành động của chính quyền miền Nam với một nhãn quan công minh hơn. Trong cái phúc lợi của việc hàn gắn vết thương chiến tranh, nếu không phải vì những chuyện khác, có lẽ điều khôn ngoan cho Hà Nội là nên xem xét lại quá khứ và trả lại cho Cesar những gì thuộc về Cesar. Và sự chống đỡ mãnh liệt của chính quyền Sài Gòn để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, đúng vào cái lúc mà chế độ Hà Nội đang bận rộn ve vuốt để nhận đặc ân từ Trung Quốc, là một hành động xuất sắc nên được công nhận.

Hồ Chí Minh đã có một lần được hỏi rằng ông ta ủng hộ Liên Sô hay ủng hộ Trung Quốc Ông ta đã trả lời rằng ông ta ủng hộ Việt Nam. Bây giờ là lúc để chế độ Hà Nội nhìn nhận rằng đã có lúc khi mà chính quyền Sài Gòn đã ủng hộ cho Việt Nam nhiều hơn là chính quyền của miền Bắc.

2) Ðằng sau những tuyên bố về chủ quyền trên hai quần đảo

Những gì đã xảy ra sau khi Hồ Chí Minh được quân đội của Mao Trạch Ðông và các đồng chí giúp nắm giữ quyền lực tại miền Bắc Việt Nam.

Việt Nam tuyên bố chủ quyền trên “quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” dựa trên các tài liệu xưa cũ và đặc biệt là tập bút ký “Phủ Biên Tập Lục” của Lê Quý Ðôn. Việt Nam gọi hai quần đảo này là Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spratlys); Trung Quốc gọi là Tây Sa (Xisha) và Nam Sa (Nansha). Người Việt Nam đã đụng độ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa vào ngày 19/1/1974 với kết qủa là một tàu lớn của Hải quân miền Nam cũ bị đắm và 40 thuỷ thủ bị bắt. Vào tháng 3/1988 nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa lại đến và đánh chìm 3 tàu của Việt Nam, 72 thuỷ thủ bị thiệt mạng và 9 bị bắt. Vào ngày 25/2/1992, nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ.

Lý do chính để Trung Quốc làm như thế đã được biết đến trước đây như một phần của kế hoạch gọi là “Không gian sinh tồn”, bởi vì tài nguyên thiên nhiên của hai vùng Mãn Châu và Tân Cương sẽ bị cạn kiệt sớm. Ðể làm điều này, Trung Quốc bắt đầu bằng phần dễ nhất – là cái mà cộng sản Việt Nam đã hứa trước đây. Có nghĩa là Trung Quốc căn cứ vào một sự thương lượng bí mật trong qúa khứ. Trong một bản tin của hãng thông tấn Reuters ngày 30/12/1993, thì cộng sản Việt Nam đã bác bỏ sự thương lượng bí mật này nhưng không đưa ra bất cứ lời giải thích nào. Lê Ðức Anh đi thăm Trung Quốc và làm chậm trễ vụ tranh chấp này đến 50 năm. Có phải là Trung Quốc có thái độ vì sự vô ơn và những hứa hẹn trong quá khứ của Lê Ðức Anh?

3) Cộng Sản Việt Nam bán Quần Đảo Hoàng sa và Trường sa, nhưng bây giờ muốn nói không.

Theo tài liệu "Chủ quyền tuyệt đối của Trung Quốc trên quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa" của Bộ Ngoại giao Trung Quốc (Beijing Review, 18/2/1980), thì Hà Nội đã "dàn xếp" vấn đề này trong quá khứ. Đại khái họ đã bảo rằng:

- Hồi tháng 6 năm 1956, hai năm sau ngày chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã được tái lập tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Bắc Việt Ung Văn Khiêm nói với Li Zhimin, Xử lý Thường vụ Toà Đại Sứ Trung quốc tại Bắc Việt, rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc".

- Ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là mười hai hải lý, được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, "bao gồm ... Quần Đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa ...". Mười ngày sau đó, Phạm Văn Đồng đã ghi rõ trong bản công hàm gởi cho Chu An Lai, rằng "Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa về vấn đề lãnh hải".

Ðây là của văn bản của nhà nước Việt Nam do Phạm Văn Ðồng ký gởi cho Chu Ân Lai vào ngày 14/9/1958 để ủng hộ cho lời tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc như theo sau:

Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố , ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.

Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

PHẠM VĂN ĐỒNG
Thủ tướng Chính Phủ
Nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa

Thêm một điều cần ghi nhận là Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (PRC) đã chỉ đe dọa những lãnh thổ mà Việt Nam đã tuyên bố là của mình, và để yên cho các nước khác. Rõ ràng là ông Hồ Chí Minh qua Phạm Văn Đồng, đã tặng cho Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa "một cái bánh bao lớn" bởi vì lúc đó ông Hồ Chí Minh đang chuẩn bị cho công cuộc xâm lăng miền Nam Việt Nam. Ông Hồ cần sự viện trợ khổng lồ và đã nhắm mắt để nhận tất cả những điều kiện của Bắc Kinh. Đối với ông ta, việc bán "trên giấy tờ" hai quần đảo lúc đó vẫn thuộc về miền Nam Việt Nam là một điều dễ dàng.

Vì sự việc này mà Cộng sản Việt Nam đã chờ một buổi họp của các quốc gia khối ASEAN tại Manila, để dùng cơ hội này như một cái phao an toàn và ký ngay một văn kiện đòi hỏi những quốc gia này giúp Việt Nam giải quyết vấn đề "một cách công bình"

Về phía Trung Quốc, sau khi đã lấy được những đảo của Cộng sản Việt Nam, họ đã tỏ thái độ ôn hòa đối với Mã Lai Á và Phi Luật Tân, và bảo rằng Trung Quốc sẵn sàng thương lượng các khu vực tài nguyên với các quốc gia này, và gạt Việt Nam qua một bên. Trung Quốc đã nói họ sẽ không tán thành bất cứ quốc gia nào can thiệp vào vấn đề giữa họ và Cộng sản Việt Nam.

Sau đó, Phạm Văn Đồng đã chối bỏ việc làm sai lầm của ông ta trong quá khứ, trong một ấn bản của Tạp chí Kinh tế Viễn Đông ngày 16/3/1979. Đại khái, ông ấy nói lý do mà ông ấy đã làm bởi vì lúc đó là "thời kỳ chiến tranh". Đây là một đoạn văn trích từ bài báo này ở trang số 11:

Theo ông Li (Phó Thủ tướng Trung quốc Li Xiannian), Trung quốc đã sẵn sàng chia chác vùng vịnh "mỗi bên một nửa" với Việt Nam, nhưng trên bàn thương lượng, Hà Nội đã vẽ đường kiểm soát của Việt Nam đến gần Đảo Hải Nam. Ông Li cũng đã nói rằng vào năm 1956 (hay 1958 ?), Thủ tướng Việt Nam Phạm văn Đồng đã ủng hộ một bản tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền của họ trên Quần Đảo Trường Sa Và Hoàng Sa, nhưng từ cuối năm 1975, Việt Nam đã kiểm soát một phần của nhóm đảo Trường Sa - nhóm đảo Hoàng Sa thì đã nằm dưới sự kiểm soát bởi Trung Quốc. Năm 1977, theo lời tường thuật thì ông Đồng đã biện hộ cho lập trường của ông ấy hồi năm 1956: "Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy".

Vì hăng hái muốn tạo ra một cuộc chiến thê thảm cho cả hai miền Nam Bắc, và góp phần vào phong trào quốc tế cộng sản, ông Hồ Chí Minh đã hứa, mà không có sự tự trọng, một phần đất "tương lai" để cho Trung Quốc nắm lấy, mà không biết chắc chắn là có thể nào sẽ nuốt được miền Nam Việt Nam hay không.

Như ông Đồng đã nói, "Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy". Vậy thì ai đã tạo ra cuộc chiến Việt Nam và sẵn sàng làm tất cả mọi sự có thể làm được để chiếm miền Nam, ngay cả việc bán đất ? Bán đất trong thời chiến và khi cuộc chiến đã chấm dứt, Phạm Văn Đồng lại chối bỏ điều đó bằng cách bịa đặt ra việc đổ thừa cho chiến tranh.

4) Trong cuốn “Vấn đề tranh chấp lãnh thổ Hoa -Việt” của Pao-min-Chang thuộc tủ sách The Washington Papers, do Douglas Pike viết lời nói đầu, được Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và Quốc tế thuộc Ðại học Georgetown , Washington D.C. xuất bản

Ngoài cái khoảng cách về địa lý, cả hai nhóm quần đảo này nằm ngoài phía bờ biển của miền Nam Việt Nam và vẫn dưới sự quản lý hành chánh của chế độ Sài Gòn vốn không thân thiện gì. Hà Nội đơn giản là không ở trong cái tư thế để đặt vấn đề với cả Trung Quốc lẫn sức mạnh của hải quân Mỹ cùng một lúc. Do đó, vào ngày 15/6/1956, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng đã nóì với phía Trung Quốc: “Từ quan điểm của lịch sử, thì những quần đảo này thuộc về lãnh thổ Trung Quốc” (Beijing Review 30/3/1979, trang 20 – Cũng trong báo Far East Economic Review 16/3/1979, trang 11).

Hồi tháng 9 năm 1958, khi Trung Quốc, trong bản tuyên bố của họ về việc gia tăng bề rộng của lãnh hải của họ đến 12 hải lý, đã xác định rằng quyết định đó áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm cả Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một lần nữa Hà Nội đã lên tiếng nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên 2 quần đảo đó. Ông Phạm Văn Đồng đã ghi nhận trong bản công hàm gởi cho lãnh tụ Trung Quốc Chu An Lai ngày 14/9/1958: "Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc" (xem Beijing Review 19/6/1958, trang 21 -- Beijing Review 25/8/1979, trang 25 -- Sự tồn tại của bản công hàm đó và tất cả nội dung đã được xác nhận tại Việt Nam trong BBC/FE, số 6189, ngày 9/8/1979, trang số 1.)

5) Tại sao ?

Theo ông Carlyle A Thayer, tác giả bài "Sự tái điều chỉnh chiến lược của Việt Nam" trong bộ tài liệu "Trung Quốc như một Sức mạnh Vĩ đại trong vùng Á châu Thái Bình Dương" của Stuart Harris và Gary Klintworth [Melbourne: Longman Cheshire Pty Ltd., forthcoming 1994] :

Phía Việt Nam, trong khi theo đuổi quyền lợi quốc gia, đã thực hiện nhiều hành động mà theo quan điểm của Trung Quốc thì có vẻ khiêu khích cao độ. Thí dụ như, trong công cuộc đấu tranh trường kỳ dành độc lập, Việt Nam đã không biểu lộ sự chống đối công khai nào khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền của họ trên biển Nam Trung Hoa và đúng ra lại tán thành họ. Nhưng sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã đổi ngược lập trường. Năm 1975, Việt Nam đã chiếm đóng một số hải đảo trong quần đảo Trường Sa và sau đó đã tiến hành việc tuyên bố chủ quyền lãnh thổ trên toàn bộ biển Nam Trung Hoa.

Như Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận:

"Các nhà lãnh đạo của chúng tôi đã có tuyên bố lúc trước về Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên tinh thần sau: Lúc đó, theo Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, các lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam. Hơn nữa, Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đã phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, tình hữu nghị Hoa-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Trung Quốc đã cho Việt Nam một sự ủng hộ rất vĩ đại và giúp đỡ vô giá. Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi khẩn cấp nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi [ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc.”

Đặc biệt thêm nữa là cái tuyên bố đó để nhắm vào việc đạt yêu cầu cho những nhu cầu cấp thiết vào lúc bấy giờ để ngăn ngừa bọn tư bản Mỹ dùng những hải đảo này để tấn công chúng tôi. Nó không có dính dáng gì đến nền tảng lịch sử và pháp lý trong chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa Và Trường Sa" (Tuyên bố trong một buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2/12/1992, được loan tải bởi Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 3/12/1992)

Những ghi nhận này cho thấy rằng tất cả những điều mà Trung Quốc đã tố cáo phía trên là sự thật. Những gì xảy ra ngày hôm nay mà có liên hệ đến hai quần đảo này chỉ là những hậu quả của sự dàn xếp mờ ám của hai người cộng sản anh em trong qúa khứ.

Không một ai trong cộng đồng thế giới muốn bước vào để dàn xếp sự bất đồng giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Lý do rất rõ ràng: cái công hàm ngoại giao và sự nhìn nhận của Cộng sản Việt Nam không thể nào xoá bỏ được bởi một nước nhỏ như Việt Nam, kẻ đã muốn chơi đểu để lừa dối Trung Quốc. Hơn nữa, Cộng sản Việt Nam không thể nào tránh được Trung Quốc trong khi họ phải bắt chước theo chính sách "đổi mới" của Trung Quốc để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Lược dịch từ: Paracels Islands Dispute by Frank Ching (Far Eastern Economic Review, Feb. 10, 1994)

Saturday, April 24, 2010

Tập Trung Quyền Lực Đảng Vào Chính Phủ Nhằm Cũng Cố Độc Tài Toàn Trị Tham Ô

Lý Đại Nguyên

Từ ngày Việt nam chính thức bước vào sinh hoạt mở rộng trên trường quốc tế, thì cái chế độ “nửa dơi, nửa chuột” Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý của Việt cộng tỏ ra quá lạc lõng, làm khó cho các nước Dân Chủ, nhưng lại là một ưu thế đối với Trung cộng. Chính phủ ở các nước Dân Chủ khi giao tiếp với Việt cộng thì chỉ có thể giao tiếp, cũng như ký kết các văn bản pháp lý với Chính Phủ quản lý nắm vai trò thừa hành, chứ không trực tiếp ký với Người Lãnh Đạo đảng là tổng bí thư, vì lãnh tụ đảng Việt cộng trong công pháp quốc tế không phải là người đại diện hợp pháp của quốc gia, mặc dù Hiến Pháp Việt Cộng ở Điều 4 đã tiếm quyền Quốc Dân, để quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà Nước, nhưng Hiến Pháp và Luật Pháp của Việt Cộng lại không quy định Tổng Bí Thư là Nguyên Thủ Qưốc Gia, có quyền lãnh đạo Nhà Nước. Thế nên những văn bản mà các nước Dân Chủ ký với Việt Cộng, hay chính phủ Việt Cộng ký vào các Công Ước Quốc Tế thường bị Việt Cộng không nghiêm chỉnh thi hành. Bởi vì thường bị lãnh đạo đảng lật lọng, xếp xó. Chỉ trừ Trung cộng khi nắm đầu được Tổng Bí Thư Việt Cộng rồi thì toàn đảng, chính phủ, quân đội, công an đều phải răm rắp tuân hành. Chính vì thế Việt Nam mới từ từ rơi vào vòng nô lệ cho Trung cộng.

Sau ngày Liên xô sụp đổ, hệ thống Cộng sản Quốc tế tan rã, sinh hoạt trên chính trường quốc tế mở rộng, sự giao hảo giữa các nước không phân biệt chế độ chính trị nữa, thì Trung cộng đã rút kinh nghiệm bang giao quốc tế, biết chủ động hợp pháp hóa vị thế của Tổng Bí Thư, bằng cách cho kiêm chức Chủ Tịch Nước, kể từ thời Giang Trạch Dân. Họ Giang đã tự xây dựng vị trí lãnh tụ của mình với chủ thuyết “Tam Cá Đại Biểu”. Đến Hồ Cẩm Đào thì đưa ra chủ thuyết “Xã Hội Hài Hòa”. Rồi đảng tiếp tục tạo ra người thừa kế. Loại bỏ chế độ “song trùng” quy về một mối đảng và chính phủ trở thành một, để độc quyền thống trị Quốc Dân và chủ động bang giao Quốc Tế. Mặc dù Việt cộng là học trò trung thành của Trung cộng, nhưng Trung cộng vẫn không để cho Việt cộng tập trung quyền lực giữa đảng và chính phủ, vẫn duy trì chế độ ‘song trùng’ bất lực tại Việt nam, để cho Việt cộng không thể chủ động có thực quyền điều hành đất nước, phát triển kinh tế, ngang hàng, hay qua mặt Trung cộng trên trường quốc tế.

Chế độ ‘song trùng’ trì trệ Việt cộng không những là gánh nặng cho ngân sách quốc gia, phải nuôi 2 hệ thống đảng và chính phủ song hành, còn tạo ra một hệ thống thực quyền mà vô trách nhiệm, tùy tiện tham ô, đứng trên luật pháp, tạo ra luật pháp, thi hành luật pháp, khống chế luật pháp, mà không bị bất cứ thế lực nào chế tài, kể cả công luận. Vì Việt nam hiện nay chỉ có một đảng Việt cộng độc quyền lãnh đạo cả Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, báo chí, truyền thanh, truyền hình đều nằm trong tay đảng Việt cộng. Đảng lại còn muốn kiểm soát luôn thông tin trên mạng nữa. Đối với Quốc Dân thì đảng Việt cộng hiện nay đã là độc tài toàn trị. Nhưng dù sao cũng tự giới hạn bằng chế độ ‘song trùng’ lưỡng đầu của chính họ. Nội trị tuy tha hồ tùy tiện thao túng chính quyền, luật pháp, kinh tế… Khiến cho chức Thủ Tướng coi về quản lý hành chánh trở thành bù nhìn, không có quyền truất nhiệm viên chức dưới quyền, quyền đó thuộc về tổ chức đảng. Chính vì vậy, mặc dù Nguyễn Tấn Dũng hiện nay là chủ tịch chỉ đạo Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng Quốc Gia, mà không dám động đến lông chân của bọn tham nhũng gộc. Trong đó lẽ cố nhiên có cả đương sự nữa. Nhưng đối với quốc tế thì vị thế của đảng không được coi trọng, hoặc cố ý không coi trọng để nâng vai trò đối tác của chính phủ lên ngang tầm với quốc tế..

Đó là lý do khiến Trung Ương Đảng Việt Cộng đưa ra chủ trương: Bí Thư kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân các cấp. Để nhất thể hóa chức danh Bí Thư và Chủ Tịch, nhằm làm bộ máy cai trị gọn nhẹ, việc điều hành nhanh chóng, kịp thời không bị, chồng chéo, ách tắc. Như vậy, không biết trong kỳ Đại Hội XI này, đảng Việt Cộng có dám chơi ngang tầm với quan thầy Bắc kinh là để Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước hay không? Hay vẫn chọn một viên Tổng Bí Thư bù nhìn kiểu Nông Đức Mạnh, một Chủ Tịch Nước đần độn như Nguyễn Minh Triết, một Thủ Tướng luồn lọt như Nguyễn Tấn Dũng, để cho 15 ủy viên Bộ Chính Trị thành ‘cá mè một lứa’. Rồi mọi quyết định quan trọng đến vận mệnh dân tộc đều do quan thầy Bắc kinh chỉ đạo? Chế độ Việt Cộng hiện nay tiếng là: “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”. Nhưng cộng hòa của thứ xã hội chủ nghĩa chết tiệt đó, không phải là thề chế Cộng Hòa Phổ Cập Toàn Dân, trong đó mọi công dân đều có quyền trực tiếp phổ thông đầu phiếu, bầu lên những nhà lãnh đạo chính quyền của mình, mà Việt Cộng chỉ áp dụng quy chế “đảng cử, dân bầu” ra Quốc Hội, và Hội Đồng Nhân Dân các cấp bù nhìn của đảng. Thế nên việc đảng chọn Tổng Bí Thư rồi đưa sang Quốc Hội bầu vào chức Chủ Tịch Nước, hoặc đảng bầu Bí Thư, rồi đưa cho Hội Đồng Nhân Dân các cấp thông qua thì quá nhẹ nhàng, không gì trở ngại.

Nhưng nhiều cựu viên chức cao cấp trong đảng lại muốn đi xa hơn nữa là góp ý “Dân Chủ Hóa đảng”. Một ngày, sau khi kết thúc Hội Nghị lần thứ 12 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó Ban Tổ Chức Trung Ương, cho đăng bài viết trên Việt Nam Net rằng: “Muốn chọn người tài đức thì không có cách nào khác hơn là thực hiện dân chủ”. “Dân chủ không áp đặt, không cảm tình thiên vị và không cố chấp là những điều đảng phải làm, nếu muốn có cán bộ tốt cho Đại Hội lần thứ XI”. Ông Hương cũng đưa ra đề nghị: “Nên có một danh sách người có đủ khả năng cho chức vụ Tổng Bí Thư, thay vì chỉ có một người được đề nghị bỏ phiếu thông qua… và không phân biệt vùng miền, từng là một trong những yếu tố quan trọng khi chọn người được cử giữ những vị trí quan trọng ở các kỳ đại hội trước đây”.

Một đảng gọi là lãnh đạo nhà nước, mà đảng viên không được bình quyền với nhau để ứng cử, bầu cử ra các người lãnh đạo của mình, như từ trước tới nay, thì đảng này chỉ là đảng giặc cướp, không thể gọi là Chính Đảng, hay Đảng Lãnh Đạo được nữa. Vì thế mà những đảng viên tự trọng, còn biết liêm sỉ và giác ngộ được quyền lợi của mình, không những phải đòi Dân Chủ Hóa đảng, mà còn phải có trách nhiệm đòi Dân Chủ Hóa chế độ cho toàn dân nữa mới đúng. Đối với những Người Đấu Tranh cho Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền ở trong và ngoài Việt Nam hiện nay, thì tuyệt đối không để bị rơi vào bất cứ một giải pháp nào ở “Giai Đoạn Chuyển Tiếp” này. Vì ngay cả việc “Dân Chủ Hóa Đảng” cũng chỉ là sự Tập Trung Quyền Lực Đảng vào Chính Phủ để thống trị Quốc Dân, nếu Viêt nam chưa có Tự Do Ngôn Luận, Tự Do Tôn Giáo, Tự Do Chính Đảng, Tự Do Nghiệp Đoàn, để Quốc Dân có thực quyền, thực lực tự làm chủ lấy mình, kiểm soát chế độ chính trị và phục hồi chủ quyền đất nước.

Thursday, April 22, 2010

Mobifone vô cớ cắt điện thoại người bất đồng chính kiến ?

Thư tố cáo: Về việc nhà cầm quyền CSVN tiếp tục giở trò với gia đình họ Lư


Kính gửi: Các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước.


Tôi là Lư Thị Thu Trang, hiện đang cư ngụ tại số 77/13B đường Trần Bình Trọng, P1, Q. Gò Vấp, TP Sài Gòn. Nay viết thư này tố cáo đến toàn thể Quý vị về những hành động tiếp tục đàn áp của Nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam đối với gia đình họ Lư chúng tôi như sau :

Sau gần tháng trời lực lượng công an an ninh đóng chốt + khủng bố tinh thần, kiểm soát triệt để cuộc sống, sinh hoạt, kinh tế của cả gia đình tôi (từ ngày 26/3/2010 đến nay).Và ngày hôm qua, tức ngày 20/4/2010 họ đã dùng quyền thống trị, buộc các Công ty viễn thông phải cắt toàn bộ các số điện thọai mà tôi đang đứng tên thuê bao hợp pháp để sử dụng liên lạc với mọi người.

Cụ thể là các số đt sau đây: I, (0933594711) II , (01229404119) số III này (0835032796) là đt cố định của gia đình, là sự liên hệ cần thiết của của Cha, Mẹ tôi với những thân nhân ruột thịt mà đa phần đang sinh sống khắp nơi trên thế giới cũng là những nạn nhân của chế độ độc tài này. Những con người đang được sống cuộc sống tự do nhưng luôn hướng về cội nguồn cùng trăn trở, chia sẻ, giúp đỡ, an ủi Cha Mẹ tôi trong hoàn cảnh “tự do” hiện nay của gia đình tôi. Phải chăng Ông Nội tôi đã cất công đi tìm Tự do cho Dân tộc Việt Nam từ năm 1936, vậy mà từ sau ngày 30/4/1975 đã trở thành dân oan? Đến nay cả gia đình tôi phải sống trong cái cảnh “độc lập tự do” này!


Nắm giữ Chế độ độc tài này chắc toàn những con người đã táng tận lương tâm? Hay họ đang mưu mô sắp đặt cho một thủ đoạn khác? Mà trong 1 ngày ra tay cắt đứt đoạn thâm tình của gia đình tôi với người thân, hay họ đang chuẩn bị hành hình tôi? Cần phải cắt hết mọi phương tiện liên lạc của gia đình, để ngăn chặn sự tiết lộ thông tin, đề phòng cơ mưu bị lộ như lần trước? (ngày 31/3/2010). Dù sao họ cũng đâu thể bưng bít thông tin được ví bằng bất cứ hình thức hoặc thủ đoạn nào đã làm thì chắc chắn sẽ có người biết huống hồ tội ác này rồi cũng có ngày bị phán xét bằng Luật pháp và cả Luật Trời nữa !


Kính thưa Toàn Thể Quý Vị! Sau khi phát hiện các số đt có đăng ký thuê bao hợp pháp bị cắt. Tôi lập tức liên hệ với bộ phận chăm sóc khách hàng của Công Ty Viễn Thông Mobifone để khiếu nại, qua nhiều cuộc thoại tôi nhận được thông tin từ đường dây nóng của Công Ty Mobifone có số đt 0908144144, trả lời như sau :

“Thông tin về việc chặn cuộc gọi 2 chiều số máy…với người thuê bao tên Lư Thị Thu Trang là theo yêu cầu của người có thẩm quyền. Người này có đầy đủ thông tin về ngày tháng năm sinh và số CMND của tên thuê bao yêu cầu, nên một cửa hàng của Mobifone đã chặn. Nếu còn thắc mắc thì đến cửa hàng của Mobifone sẽ có người giải thích rõ hơn!”


Thiết nghĩ , không cần ai giải thích thêm tôi đã thừa biết loại người có thế lực + thẩm quyền nào đã yêu cầu làm việc này rồi, chắc quý vị cũng đã đọc qua, trong bản tin tường thuật gần đây nhất (ngày 5/4/2010) tôi đã có nhắc đến việc bị cắt Internet và một số đt di động cũng của mạng Mobifone theo yêu cầu của Bộ công an. Nay họ lại giở trò cũ thì cần gì phải giấu mặt, giấu tung tích?

Đề nghị các Công Ty viễn Thông nên có thái độ rõ ràng trong việc cung cấp dịch vụ, kẻo lại tiếp tay cho cái loại cường quyền ác bá, cứ đeo cái mặt nạ ông kẹ công an vào là tha hồ làm bậy, nói càn; rồi khi có ai hỏi đến thì cứ chối leo lẻo, vì cho rằng chẳng ai hay biết việc họ đã làm, sẵn sàng hùa vào đánh đập, hành hạ bất cứ ai, mặc dù chẳng mảy may chút thù oán. Lực lượng này luôn thể hiện bản năng như loài cầm thú, chứ chẳng phải của con người?


Kính thưa Toàn Thể Quý Vị! Gia tộc họ Lư chúng tôi đang là nạn nhân và cũng là nhân chứng gây nhức nhối cho chế độ bạo quyền này. Thế hệ Ông, Cha của tôi đã sống trải nghiệm xuyên suốt qua từng thời kỳ của chế độ độc tài Cộng Sản Việt Nam. Là người kế thừa nỗi đau của một Họ Tộc, khi dấn thân vào con đường đấu tranh cho lẽ phải, chị em tôi đã chấp nhận sự trả thù cay độc của một thể chế độc tài, cũng như những bậc Chú, Bác và các Anh Chị, Em trong phong trào đấu tranh cho Dân Chủ.

Với hy vọng vào ngày mai, tương lai của con cháu chúng tôi được sống có Công Bằng Dân chủ thật sự, giữ được truyền thống Nhân Ái Hiếu Hòa của Dân Tộc Việt Nam, để trở thành những công dân tốt có ích cho Đất Nước. Chúng tôi mong muốn sự thay đổi này thì có phạm pháp hay không? Hỡi những ai đang dùng ách thống trị để gông cùm cả Dân Tộc Việt? Chân thành cảm ơn Quý vị đã đọc thư. Kính chào Toàn Thể Quý Vị!


Người viết thư

Lư Thị Thu Trang – Thành viên Khối 8406.

Địa Chỉ liên lạc:

77/13B đường Trần Bình Trọng, P.1, quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn.


http://freelecongdinh.wordpress.com/2010/04/23/thư-tố-cao-về-việc-nha-cầm-quyền-csvn-tiếp-tục-giở-tro-với-gia-dinh-họ-lư/

Tuesday, April 20, 2010

Trung tá và Thiếu tá o Viet Nam

Hà Văn Thịnh – Đại học Khoa học Huế

Một vụ án không phải chính trị hay an ninh nhưng bị “đặc biệt hóa” bằng những biện pháp an ninh “quá mức cần thiết”, “quá ghê”, “quá chặt” như nhận định của Luật sư Trần Vũ Hải khi trả lời phỏng vấn của BBC ngày 16/4/2010, bà Trần Khải Thanh Thủy được ít nhất ba sĩ quan cấp tá áp giải. Trước sự kiện đó, ông Hà Văn Thịnh day dứt vì việc sử dụng tràn lan sĩ quan cấp tá đảm trách những việc quá đơn giản như áp giải tù nhân hay kiểm tra giấy tờ xe, mà ông gọi là “nền “văn minh” trung tá, thiếu tá”.

Nhưng như thế đã là may cho đất nước. Vì đâu phải chỉ việc áp giải tù nhân hay kiểm tra giấy tờ xe mới sử dụng tràn lan sĩ quan cấp tá. Và đâu phải chỉ đến cấp trung tá, thiếu tá mà thôi! Cũng đâu phải đã có nhiều cán bộ cấp cao đủ năng lực đảm trách những công việc “liên quan đến đầu óc phân tích, định hướng, tổ chức” như mơ ước của ông Hà Văn Thịnh!

Bauxite Việt Nam

Bà Trần Khải Thanh Thủy trước toà án - Nguồn: BBC

Bà Trần Khải Thanh Thủy trước toà án - Nguồn: BBC

Xem bức ảnh đăng ở đầu bài Y án với bà Trần Khải Thanh Thủy (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/04/100416_viet_trial.shtml), tôi lại phải buồn vì cái chuyện lâu nay đã rất buồn: Vì sao sĩ quan công an trung và cao cấp (đồng nghĩa với việc họ hưởng lương cao) ở Việt Nam nhiều thế? Áp giải bà Thủy ra tòa là hai nữ sĩ quan cấp trung tá và thiếu tá. Sau lưng 3 người còn có một sĩ quan cấp tá nữa!

Ở đây tôi không bàn chuyện bà Thủy bị Tòa Phúc thẩm Hà Nội giữ nguyên mức án ba năm rưỡi tù giam vì tội cố ý gây thương tích (vẫn là “nhẹ” so với chuyện 3 nông dân ở Lâm Đồng “cướp” 2 con vịt về nhậu và phải chịu tổng án tù là 13 năm (Pháp Luật TP HCM, 11.8.2009) là đúng hay sai. Tôi chỉ muốn nói chuyện rằng tại sao chỉ để áp giải phạm nhân, lại cần đến sĩ quan cấp tá.

Theo chỗ tôi biết, lương của sĩ quan công an cấp tá (dẫu mới hôm qua, học tại chức, tôi dạy, nhưng hôm nay ra trường) cũng cao gần gấp đôi mức lương 30 năm đứng trên bục giảng đại học của tôi. Đó là chưa kể vô số các khoản phụ cấp công việc, công tác khác…

Dẫn giải phạm nhân là việc của những người lính (binh nhất, binh nhì), cao lắm là cấp bậc hạ sĩ hay thượng sĩ. Tại sao nước ta còn nghèo mà lại lãng phí sĩ quan cấp tá đến như thế? Đây là điều khó hiểu vì tôi biết chắc rằng không có một nước văn minh nào trên thế giới lại lãng phí sĩ quan cấp tá như ở ta. Đã là cấp tá, tức là loại cán bộ có đầu óc chỉ huy, đủ năng lực chỉ huy; công việc của sĩ quan cấp tá liên quan đến đầu óc phân tích, định hướng, tổ chức, chứ không phải loại “cầm gậy chỉ đường”.

Đi ra đường, chúng ta thấy có rất nhiều trung tá, thiếu tá, đại úy… CSGT đứng đường để kiểm tra… “giấy tờ” xe! Chẳng có nước nào mà lại có nhiều trung tá, thiếu tá đứng đường như thế!

Dẫn giải phạm nhân hay kiểm soát giao thông cục bộ là việc của lính, của hạ sĩ quan chứ không phải là việc của sĩ quan cấp tá. Tại sao cứ lãng phí tiền của của nhân dân để thăng cấp hàng ngàn sĩ quan cấp úy, cấp tá, chỉ để lo áp giải tù nhân hay chỉ lo cho lưu thông thông suốt? Tại sao rất nhiều kỹ sư, bác sĩ, sau khi học từ 4-7 năm ở trường đại học mà lương chỉ bằng một nửa so với công việc đơn thuần chỉ là động tác và máy móc ấy? Công việc ấy chỉ cần đào tạo vài tháng là đủ. Trong khi đó, rất nhiều lãnh đạo nói rằng cần phải ưu tiên phát triển giáo dục, “nền kinh tế tri thức”… Những “văn tự” mỹ miều!

Theo tôi, cần phải khẳng định rằng đất nước ta ngày nay đang ưu ái khôn cùng cho đội ngũ trung tá, thiếu tá… Nền “văn minh” trung tá, thiếu tá?

H. V. T.

HO-HD Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

http://boxitvn.wordpress.com/2010/04/20/trung-ta-va-thi%E1%BA%BFu-ta/#more-4665

Monday, April 19, 2010

Dân oan Nghệ An biểu tình phản đối chính quyền địa phương

2010-04-16

Trong hai ngày qua, nhiều dân oan tại Nghệ An biểu tình phản đối chính quyền địa phương cưỡng chiếm đất đai, nhà cửa của họ.

Ảnh do thính giả gửi RFA

Công an cản trở không cho người dân vào Tỉnh Ủy

Không những thế, chính quyền địa phương còn thực hiện hành động mà họ cho là “nhiều sai phạm” của giới cầm quyền trong các vấn đề từ tiền lương, tù đày oan trái cho tới tình trạng thiệt thòi của thương binh liệt sĩ trong tỉnh.

Nhiều nỗi oan trái

Cũng giống như mọi khi, và mọi nơi trong nước, khoảng 60 dân oan từ nhiều huyện trong tỉnh Nghệ An, thậm chí từ vùng xa xôi giáp ranh với Lào, đã bị đùn đẩy từ Ủy ban Nhân dân Tỉnh đến Trụ sở Tỉnh Ủy, nơi họ cáo giác là bị tiếp đón bằng súng, bị công an xô đẩy, không cho vào bên trong các cơ quan đầu não của tỉnh để khiếu kiện.

Một cư dân ở Nghệ An đấu tranh mạnh mẽ và kiên quyết cho dân oan, là chị Hồ Thị Bích Khương, mô tả: “Đúng là Trụ sở Tiếp dân của Tỉnh Ủy đã tiếp dân bằng súng. Họ đem súng ra cản nhân dân, đe dọa nhân dân”.

Một dân oan khác, ông Trần Văn Huy, nhận xét: “Những người thương binh biểu tình hôm qua (thứ Năm 15/4) và hôm nay, có những người bị mất một chân, một cánh tay, đi khiếu kiện để đòi lại công bằng cho chính họ và cho xã hội nói chung, nhưng CS ngày nay, sau khi giành được chính quyền rồi, thì quay lại tiếp chúng tôi bằng súng.”

Nhân dân Nghệ An đứng lên đấu tranh cho CS có được ngày hôm nay. Nhưng 35 năm sau chính CS quay ngược lại cướp đất đai của chúng tôi.
Dân oan Trần Văn Huy

Theo lời kể lại của các dân oan, thì sau cùng rồi một quan chức từ trong cơ quan Tỉnh Ủy cũng xuất hiện, hứa hẹn suông rằng sẽ chỉ đạo cho Ủy ban Nhân dân tỉnh giải quyết, và yêu cầu họ sang bên đó. Tới giờ hẹn, người dân khiếu kiện kéo sang bên đó thì chỉ thấy “Cửa Quan” im ỉm, trong tình trạng cửa đóng then gài.

Bà Nguyễn Thị Ngọc, một dân oan đến từ huyện Nghĩa Đàn của tỉnh Nghệ An than phiền rằng: “Hôm nay tôi đi biểu tình. Bên Tỉnh Ủy có nói với dân oan là sẽ tiếp dân. Tôi chờ cho mãi đến tối, nhưng không vào cơ quan này được.”

Và bà cho biết thêm về nỗi gian truân của mình trong 5 năm khiếu kiện sau khi nhà của bà bị giới cầm quyền địa phương cho người đập phá: “Tôi đi kiện đã 5 năm rồi. Nhưng thực tế thì ông chủ tịch Lê Phúc Anh thị xã Thái Hòa cấp một lúc 5 miếng đất cho ông Hồ Bá Điều.

Hothi-BKhuong01.JPG
Một dân oan Nghệ An khiếu kiện hôm 15/4/2010. Ảnh do thính giả gửi RFA
Hiện tại là cướp mất đường, rồi phá nhà, xây một khách sạn cao tầng. Trong khi phá nhà tôi, tôi chạy kêu CA thì họ bảo là đất của ông Điều, nên không can thiệp. Nhà tôi bị ông Chủ tịch Lê Phúc Anh cho ông Hồ Bá Điều cắt mất nửa nhà tôi. Tôi đi kiện 5 năm nay từ địa phương lên trung ương, nhưng thực tế là họ đùn đẩy, không giải quyết.”

Trường hợp bà Dư Thị Lúc gặp rắc rối từ năm 1995 khi giới chức địa phương cướp mất 5 sào đất mà gia đình bà khai hoang và sở hữu từ năm 1974, khiến bà và nhiều người con lâm cảnh túng thiếu. Bà Dư Thị Lúc cho biết: “Mẹ con tôi quá là oan trái. Mẹ con tôi làm đơn khiếu kiện lên nhờ cấp trên giải quyết. Nhưng chính quyền thì “trắng trở làm đen còn đen thì làm trắng”. Mẹ con tôi không biết kêu van vào ai.”

Hoặc trường hợp ông Hồ Văn Thái sau bao nhiêu năm canh tác hoa màu thì bị điều mà ông gọi là “kẻ xấu phá hoại”, khiến ông bị mất đất, mất trâu, con bị tù tội. Ông Hồ Văn Thái nói thêm: “Nhà cầm quyền CS đã cướp thêm toàn bộ gần gấp hơn 5 lần mà tòa án đã quy tội phi pháp cho Hồ Văn Phán (con trai) và gia đình tôi. Cho đến nay tôi đã mệt mõi vì khiếu kiện, mất hết tài sản. Giới cầm quyền CS chưa có ai đứng ra giải quyết cho tôi.”

Vừa rồi là những trường hợp dân oan tiêu biểu ở tỉnh Nghệ An. Dân oan Trần Văn Huy nhận xét về hành động của giới cầm quyền địa phương: “Thực chất sự việc ở đây đều liên quan đến đất đai. CS bằng mọi cách dụ dỗ và bằng mọi phương pháp cướp đoạt quyền sử dụng đất của chúng tôi để trao cho người khác dưới danh nghĩa xây dựng một dự án. Nhưng dự án này 3-4 năm sau vẫn nằm đó, và đất bị cưỡng chiếm vẫn bị bỏ oan.”

Bây giờ dân bị oan ức kinh khủng, còn bọn cán bộ làm hại dân khắp cả nước rồi. Tôi đại diện cho đảng CS đi kêu oan cho dân. Nó ăn cướp đất của dân.
Đảng viên Phạm Văn Minh

Và ông cay đắng nhận xét đó là “một nỗi nhục cho một dân tộc. Truyền thống Nghệ An là một truyền thống đấu tranh, không bị lệ thuộc ngoại bang. Nhân dân Nghệ An đứng lên đấu tranh cho CS có được ngày hôm nay. Nhưng 35 năm sau chính CS quay ngược lại cướp đất đai của chúng tôi.”

Những đảng viên cũng bất bình

Hothi-BKhuong02.JPG
Ông Nguyễn Quang Doãn, một dân oan khiếu kiện gần 20 năm đã bị khai trừ khỏi đảng Cộng sản. Ảnh do thính giả gửi RFA
Tình cảnh của dân oan, và nhiều nỗi oan trái khác, khiến cả những đảng viên đảng CS cũng không khỏi bất bình, trong số đó có đảng viên Phạm văn Minh. Ông Minh cáo giác: “Cán bộ của Đảng CS bây giờ đã hỏng hết rồi. Họ biến Đảng CS thành “ma qu”, làm cho dân khổ. Nói tóm lại chế độ của CS bây giờ hỏng hết rồi. Bây giờ dân bị oan ức kinh khủng, còn bọn cán bộ làm hại dân khắp cả nước rồi. Tôi đại diện cho đảng CS đi kêu oan cho dân. Nó ăn cướp đất của dân.”

Có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chị Hồ Thị Bích Khương lâu nay ra sức giúp dân oan tranh đấu phục hồi những quyền chính đáng của họ. Và chị lưu ý về mục tiêu của cuộc biểu tình hai ngày qua nhằm phản đối tất cả sai phạm của giới cầm quyền CS, từ đất đai, tiền lương cho tới tù đày oan sai, những thiệt thòi của thương binh liệt sĩ…”

Chị Hồ Thị Bích Khương cho biết thêm là chị “rất bất bình với chế độ này. Hiện tại dân oan cả nước tràn lan” và chị “đã gia nhập Khối 8406 đấu tranh cho quyền tự do, dân chủ, quyền làm người của dân tộc VN để làm sao đất nước đổi mới, nhân dân có được quyền con người.”

Thanh Quang tường thuật từ Bangkok, Thái Lan.

Saturday, April 17, 2010

Chính Đảng Viên CSVN Đòi Bỏ Chủ Nghĩa Mác LêNin


Lý Đại Nguyên

Lần hội nghị thứ 12 của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Việtcộng khóa X, bế mạc ngày 28/03/2010, đã hoàn tất các dự thảo văn kiện cho Đại Hội XI của đảng Việtcộng, trong đó đảng vẫn kiên định các nguyên tắc xây dựng đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh, được thể hiện ra Cương Lĩnh xây dựng đất nước trong“thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Thì ngày 02/04/10 phóng viên Mạc Lâm của đài RFA phỏng vấn tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ, một đảng viên trí thức Việtcộng, về bài viết của ông đã được phổ biến rộng rãi, nhằm phân tích việc:“Nên từ bỏ chủ nghĩa Mác Lênin để thay vào đó là chủ nghĩa Dân Tộc”. Theo TS. Thọ thì:“Nếu đảng không lấy chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng tư tưởng thì cái chủ nghĩa Mác-Lênin sẽ bằm nát đảng ra, Với những mũi nhọn tấn công từ phiá ngoài, nó chỉ cần đánh vào cộng sản và tham nhũng là chết rồi, là tan đảng rồi”.“Thực chất công cuộc đổi mới là chúng ta dám phá bỏ những luận điểm cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là đấu tranh giai cấp, toàn bộ Mác là muốn giai cấp công nông là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, thì cái đó là chúng ta phản bội lại chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đổi mới này, cho nên mới được như ngày nay”.

Ông giải thích thêm:“Thế thì cái công cuộc đổi mới đang tiến hành, tức là chúng ta càng phát triển cái nền kinh tế nói là kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng mà thực chất là kinh tế tư bản chủ nghĩa, có nghĩa là càng đổi mới thì càng phá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, thế mà cái chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn được ghi vào điều lệ là nền tảng tư tưởng, vì thế nên là có một cái mâu thuẫn đảng bị chia ra làm ít nhất là có hai phe: Phe thứ nhất bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, phe thứ hai là không quan tâm đến sự thắng thua của chủ nghĩa Mác-Lênin, mà tất cả vì dân giầu, nước mạnh, tất cả vì dân tộc và cái quyền lợi kinh tế nữa chứ”….“Tôi có thể khẳng định là ngay trong Bộ Chính Trị đã có sự phân rã, nếu chúng ta còn giữ chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Chủ nghĩa Mác-Lênin này nó làm cho chúng ta nhầm lẫn giữa ý thức hệ và dân tộc, ý thức hệ dân tộc và ý thức hệ tư tưởng”.

Thực ra chủ nghĩa Mác-Lênin và ngay cả tư tưởng Hồ Chí Minh nữa đối với Việtcộng nó cũng chỉ là cái phao rách nát, dù biết đã hết thời, mà bọn cầm đầu Việtcộng không dám bỏ, vì khi còn dùng cái tên đảng cộng sản để bám lấy chính quyền độc đảng, độc tài, tham nhũng, và phải dựa Trungcộng để yên tâm bóc lột dân thì không dám nghĩ tới chủ nghĩa dân tộc cũng dễ hiểu thôi. Chủ Nghĩa Dân Tộc tối kỵ đối với quan thầy Bắckinh. Vì chỉ có Trungcộng mới được quyền phát huy tinh thần Dân Tộc Đại Hán của Trunghoa, còn các nước đàn em như Việtcộng, mà dùng chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng tư tưởng thì lập tức xuất hiện ngay mối thù truyền kiếp “Một Ngàn Năm nô lệ giặc Tầu, và bao nhiêu cuộc khởi nghĩa chống xâm lăng Phương Bắc với những chiến thắng lẫy lừng cuả các anh hùng dân tộc. Thế rồi giải thích làm sao với toàn dân, khi bọn cầm đầu Việtcộng ký dâng đất, hiến biển, nhường đảo, cúng tài nguyên, núi rừng cho Trungcộng khai thác, rồi trơ mắt ra nhìn những ngư dân Việtnam bị Trungcộng sát hại, bắt chuộc khi hành nghề ngay trên phần lãnh hải của Tổ Quốc. Nhất là việc toàn dân, toàn quân, toàn đảng đều nhìn rõ bọn cầm đầu Việtcộng đảng ngoan ngoãn thực hiện kế hoạch xâm lăng êm đềm của Bắckinh, nhằm “Hán Hóa toàn diện Việt Nam”. Chính vì vậy mà Việtcộng không dám bỏ chủ nghĩa Mác-Lê chết tiệt và tư tưởng nô lệ ngoại bang của Hồ Chí Minh.

Chỉ tội nghiệp cho những đảng viên khoa bảng như tiến sĩ Đổ Xuân Thọ, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, giáo sư Tương Lai… cố công góp ý kiến, và những đảng viên còn tình tự dân tộc lo cho vận mệnh đất nước, nhưng bọn Trung Ương đảng Việtcộng khóa X, họ vừa mù, vừa điếc, lại vừa câm, họ đang bắt toàn đảng, toàn quân, toàn dân phải mù, câm, điếc như họ. Dù sao, phải nhận một điều, những phát biểu công khai của những người quan tâm tới tình hình đất nước hiện nay, nhất là dám nói huỵch toẹt ra như tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ, điều đó chứng tỏ trong hàng ngũ đảng viên đang thực sự có “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Khiến cho Lê Văn Bảo phải viết bài bình luận trên tờ Quân Đội Nhân Dân: Làm Thất Bại Chiến Lược “Diễn Biến Hòa Bình”. Phòng chống “tự diễn biến” từ bên trong và bên trên. Bài bình luận viết:“Thực hiện chiến lược“Diễn Biến Hòa Bình” chống phá cách mạng nước ta, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động thâm độc, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” gây chia rẻ, mất đoàn kết từ bên trong nội bộ Đảng và Nhà Nước ta; khi thời cơ đến chúng sử dụng tổng hợp các biện pháp cả vũ trang và phi vũ trang; kết hợp “nội công, ngoại kích”, trong đánh ra, ngoài đánh vào, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, chuyển hóa Việtnam theo con đường tư bản. Đặc biệc trong thời điểm hiện nay, khi đảng đang tiến hành các bước chuẩn bị cho Đại Hội XI thì thủ đoạn thúc đẩy“tự diễn biến’ càng được chúng thực hiện ráo riết”.

Sau khi đưa ra bằng chứng về những bài học tan rã của Liênxô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, bài bình luận chuyển vào hiện tình Việtnam:“Trên thực tế, trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước hiện nay có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của đảng, vào con đường đi lên và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có một số cán bộ, đảng viên trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong cơ quan đảng, chính quyền nay có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận, phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện; đòi đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây; cổ súy cho những mô hình xã hội xa rời thực tiễn Việtnam v.v Hiện nay, với kinh nghiệm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, các lực lượng thù địch đang ráo riết thúc đẩy “tự diễn biến” đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việtnam… Mảnh đất màu mỡ nhất để chúng thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyễn hóa” là tình trạng tiêu cực, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy đảng, nhà nước chưa đẩy lùi, ngăn chặn; kỷ luật, kỷ cương trong đảng, trong cơ quan nhà nước còn nhiều mặt buông lỏng; công tác nghiên cứu lý luận chưa giải đáp có căn cứ khoa học, thuyết phục những vấn đề mà thực tiễn đặt ra; Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ trì… thiếu kiên định, vững vàng, phẩm chất và năng lực hạn chế, thiếu tu dưỡng rèn luyện, chạy theo lợi ích cá nhân”.

Chỉ cần đọc bài bình luận trên đây, cũng thấy được số phận của đảng Việtcộng và chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đã hết cứu vãn. Vì đảng không thấy đường đi, đảng viên không tin vào lãnh đạo, nội bộ vô kỷ cương, hủ hóa, tham ô… quân, dân oán ghét, thế giới khinh khi… Những người đấu tranh Dân Chủ ở trong nước, và ở Hải Ngoại chỉ cần đẩy mạnh công cuộc Đòi Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền, đừng để vướng vào những giải pháp nhất thời ở giai đoạn chuyển tiếp này, rồi tự rơi vào vòng chống báng nhau về chuyện “bán lúa non” là Việtnam sớm có Dân Chủ Hóa thôi.

Little Saigon ngày 06/04/2010.

http://honvienxu.multiply.com/journal/item/170/170

Friday, April 16, 2010

KÍNH GỬI BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

THƯ GỬI BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Kính gửi :Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam

Tên tôi là Đỗ Xuân Thọ, đảng viên thuộc chi bộ viện chuyên ngành Cầu Hầm thuộc đảng bộ Viện Khoa học và Công nghệ GTVT. Sau hàng chục năm suy nghĩ, nghiền ngẫm về Dân Tộc, về Đảng tôi viết lá thư này cho ban chấp hành Trung ương Đảng để trình bầy ý kiến của tôi về việc xây dựng Đảng ta thật sự vững mạnh. Kính mong các đồng chí đọc, suy nghĩ và xem xét

Theo tôi cần loại bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng và thay vào đó là Chủ nghĩa Dân Tộc

Chủ nghĩa Mác-Lênin là một thanh gươm, một thứ vũ khí mạnh hơn nghìn lần vũ khí hạt nhân mà Bác Hồ vô cùng kính yêu của chúng ta chọn vào lúc xu thế của thời đại là tiến lên CNXH để giải phóng dân tộc. Thanh gươm đó đã được Đảng ta kết hợp một cách nhuần nhuễn với lòng yêu nước nồng nàn và ý chí dành độc lập của nhân dân ta. Hai đế quốc to là Pháp và Mỹ đã bị đánh bại trên mảnh đất hình chữ S này. Mãi mãi, đời đời con cháu của đất Việt ghi lòng tạc dạ điều này. Đó là bài học kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Thời đó tất cả các đảng viên xin vào Đảng chủ yếu vì lòng yêu nước vì máu dân tộc.

Tuy nhiên, khi bắt tay vào xây dựng đất nước, CN Mác-Lênin đã bộc lộ các sai lầm ở cấp độ các tiên đề. Suốt trong thời bao cấp Đảng ta đã tiến hành xây dựng đất nước theo mô hình của CN Mác- Lênin một cách chính xác, không chê vào đâu được và chính vì thế nên đã kéo lùi lịch sử của dân tốc lại 20 năm! Đó là thời kỳ đen tối nhất của dân tộc...Tôi nghẹn lời không kể xiết những đau khổ mà những người dân đã phải trải qua....

Để xây dựng một cây cầu, chúng tôi phải tính toán thiết kế theo một Quy Trình nào đó. Nếu cây cầu đổ thì việc đầu tiên phải xem xét các kỹ sư đã thiết kế và thi công đúng Quy Trình chưa? Xem xét các viện khác, các cơ quan khác áp dụng cùng Quy Trình đó cầu có đổ không? Nếu xem xét thấy đội ngũ kỹ sư đã làm đúng Quy Trình mà cầu vẫn đổ; Nếu thấy các cơ quan khác cũng áp dụng quy trình đó và cầu cũng đổ thì theo một logic hiển nhiên rứt khoát phải đi đên một khẳng định là Quy Trình đó sai!!! Cũng như vậy, thời bao cấp Đảng ta đã làm đúng CN Mác-Lênin mà đất nước vẫn lầm than; các nước XHCN khác cũng đã làm chính xác mô hình của CN Mác-Lênin mà đất nước vẫn khủng hoảng!! Chúng ta cần dũng cảm chỉ ra rằng CN Mác-Lênin là sai!

Nhận ra sai lầm đó Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới.... Đất nước bừng sáng....Công cuộc đổi mới thực chất là công cuộc mà trong đó chúng ta giám đánh đổ những tiên đề của CN Mác-Lênin như đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản với giai cấp địa chủ , tư sản v.v...Chính vì chúng ta đang “phản bội” lại CN Mác-Lênin mà đất nước mới được như bây giờ. Giai cấp tư sản, địa chủ không nhưng không bị tiêu diệt mà còn được tôn vinh như những người anh hùng, những người bằng tài năng của mình đã mang lại hàng triệu công ăn việc làm cho người lao động. Chính họ đóng thuế cho nhà nước nhiều nhất. Chính họ là nội lực của dân tộc. Ở đây quy luật giá trị thặng dư của Mác đã sai toét vì Mác chưa tính đến tiền được làm ra bởi tài năng, trí tuệ của nhà tư sản.... Đảng viên cũng được khuyến khích “bóc lột” (mà thực chất là tổ chức, quản lý người lao động) để làm giầu cho bản thân và cho xã hội.....Từ một đất nước đói ăn chúng ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới....Không thể kể xiết những thắng lợi to lớn của đất nước từ khi Đảng ta “phản bội” lại CN Mác-Lênin lãnh đạo dân tộc tiến hành công cuộc đổi mới....

Không chỉ phát triển kinh tế mà đời sống tinh thần của nhân dân ta cũng được Đảng ta lãnh đạo để "phản bội" lại CN Mác-Lênin, một chủ nghĩa vô thần, một chủ nghĩa cho rằng mình là duy vật triệt để nhất. (Thời bao cấp chúng ta đã phá tan các đền chùa....Trong nhà các đảng viên không có bàn thờ tổ tiên).Cuộc sống tinh thần của nhân dân đã trở về đúng quỹ đạo đó là cuộc sống tinh thần phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc. Những đền, miếu thờ những vị anh hùng dân tộc đã được khôi phục...các lễ hội tâm linh đã trở lại.... đạo Phật, đạo Thiên Chúa.... được tôn trọng.....Chúng ta có thể kết nạp cả những người đi đạo vào Đảng....Ca Trù, dân ca quan họ Bác Ninh, cồng chiêng Tây Nguyên.. đã được thế giới công nhận là các di sản văn hoá nhân loại. Hàng loạt văn nghệ sỹ yêu nước nồng nàn và đầy tài năng hồi bao cấp bị trù dập vì có tư tưởng trái với CN Mác-Lênin đã được khôi phục danh dự..."Bọn Tiểu tư sản trí thức" được Đảng ta dần dần coi là bộ não của dân tộc...

Chúng ta đã “phản bội” lại chủ nghĩa Mác-Lênin để đặt quan hệ ngoại giao với các nước” đế quốc sài lang” như Mỹ, Nhật, Pháp, ....Chúng ta đang hoà nhập nhưng không hoà tan. Bạn bè quốc tế ngày càng làm ăn với Việt Nam nhiều hơn...

Đất nước đang bừng sáng....Lòng dân yên ổn và hướng về Đảng....Kinh tế đang phát triển....Dù không nói ra nhưng toàn thể Đảng viên hiểu rằng chúng ta cần gạt CN Mác-Lênin đi và thay thế bằng CN Dân Tộc.

Công cuộc đổi mới của Đảng ta lẽ ra sẽ đạt được những thành tựu còn to lớn hơn rất nhiều lần nếu như không có những đảng viên có chức, có quyền, có bằng Tiến sỹ (về CN Mác-Lênin), những người bảo thủ, kiên trì bảo vệ CN Mác-Lênin cản đường tiến lên của dân tộc. Họ vu cáo những người yêu nước nồng nàn chống lại Mác-Lênin là chống lại Đảng ta. Họ làm cho giai cấp Công, Nông nghĩ rằng chỉ có CN Mác-Lênin là đem lại quyền lợi cho Công nhân Nông dân nhưng giai cấp Công,Nông Việt Nam đã trải qua thời bao câp và họ đã quá hiểu cơ chế XHCN như thế nào rồi....Thôi mà, hỡi những người Macxit, đừng to mồm bảo Đảng ta ngu xi không hiểu được tư tưởng “vĩ đại” của Mác nên đã làm sai ý Mác trong thời bao cấp!!! Đảng ta rất thông minh và sáng suốt và chính vì thông minh và sáng suốt nên Đảng ta đã “phản bội” lại Mác-Lênin để tiến hành công cuộc đổi mới long trời lở đất đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam!!! Họ bảo vệ CN Mác-Lênin là bảo vệ cái ghế của mình. Họ đã làm cho Đảng ta nhiều lúc xác định mục tiêu chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam một cách sai lầm. Sau đây tôi sẽ chứng minh những nguy hại nếu còn đặt nền tảng tư tưởng của Đảng ta vào CN Mác-Lênin

Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguyên nhân sâu xa gây nên sự mất đoàn kết trong Đảng do đó là nguyên nhân gây nên sự mất đoàn kết trong nhân dân. CN Mác-Lênin là tấm lá chắn cho bọn quan lại tham nhũng

Toàn Đảng toàn dân đang hướng vào mục tiêu: Dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Đê l àm được điều này thì công cuộc đổi mới càng phải được đẩy mạnh. Việc này đồng nghĩa với việc đẩy mạnh “phản bội” CN Mác-Lênin. Điều này tất yếu dẫn đến Đảng ta bị chia làm hai phe:

1) Phe Dân Tộc bao gồm những người không quan tâm tới việc thắng thua của một học thuyết nào đó, kể cả học thuyết Mác-Lênin. Tất cả chỉ quan tâm tới việc xây dựng đất nước Hùng Mạnh, tất cả vì Dân tộc Việt Nam.

2)Phe Bảo Thủ bao gồm những người kiên trì bảo vệ CN Mác-Lênin. Trong phe này có:

a)Những kẻ bảo vệ CN Mác-Lênin chỉ vì lợi ích cá nhân như những người đã trót làm TS về chủ nghĩa Mác-Lênin (vin quy bái tổ ở quê hương rồi) nay phải giữ thể diện, phải giữ ghế, giữ nghề kiếm cơm,

b)Những tên tham nhũng khét tiếng vì trong cơ chế XHCN chúng vơ tiền của nhân dân vào túi dễ nhất

c)Nhưng cũng có những người tin tưởng mù quáng vào CN Mác-Lênin như một số rất ít các vị lão thành cách mạng. Những bác này đồng nghĩa việc bảo vệ Đảng với việc bảo vệ CN Mác-Lênin. Đồng nghĩa việc yêu nước với yêu CNXH.

Ở đây chúng ta cần hết sức tỉnh táo để không bị rơi vào hoả mù của phe Bảo Thủ và rơi vào bẫy của bọn phản động muốn lật đổ sự lãnh đạo độc tôn của Đảng ta. Chúng ta không được nhầm lẫn giữa mục đích và phương tiện. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để giải phóng dân tộc, Bác Hồ xem giải phóng dân tộc là mục đích tối thượng và CN Mác-Lênin là phương tiện, là vũ khí để thực hiện mục đích đó (vì thế mà Người đã bị Quốc Tế Cộng Sản III khai trừ). Thanh gươm Mác-Lênin lúc đó là thứ vũ khí vô địch của các nước thuộc địa vì nó chính là sức mạnh của thời đại-Thời đại XHCN. Thanh gươm đó chỉ dùng để giải phóng dân tộc và nói thẳng chỉ dùng được vào thời đại đó. Giờ đây chúng ta xây dựng đất nước, bằng thực tế thất bại xương mắu của thời bao cấp thời mà chúng ta thực hiện không chê vào đâu được mô hình CNXH, bằng thực tế thắng lợi không thể chối cãi của thời đổi mới, thời mà chúng ta kiên quyết vất bỏ những tiền đề cốt lõi của CN Mác-Lênin, chúng ta nhận ra rằng CN Mác-Lênin là sai!!! Thời đại cũng đổi thay :CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã sụp đổ theo đúng quy luật tất yêu của nó làm chúng ta càng khẳng định CN Mác-Lênin sai lầm ở cấp độ các tiên đề, sai lầm ở mức hệ thống. Chúng ta hãy dũng cảm nhìn sào sự thật: 80% đảng viên không tin hoặc không biết gì về CN Mác-Lênin!!! Chúng ta phải dũng cảm loại bỏ CN Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta và thay vào đó là CN Dân Tộc nếu chúng ta không muốn lừa dối 3 triệu đảng viên, không muốn nói dối hàng triệu sinh viên Việt Nam trong các bài giảng về CN Mác-Lênin, không muốn làm các nhà tư sản trong và ngoài nước phải rón rén đề phòng có ngày Đảng sẽ kích động giai cấp Công Nông “đào mồ” chôn họ. không muốn Đảng ta bị chia rẽ. Nếu lấy CN Dân Tộc làm nền tảng tư tưởng thì chúng ta sẽ có một tư duy vô cùng mạch lạc để lãnh đạo dân tộc ta tiến lên. Lúc đó Đảng ta sẽ trở thành trung tâm của khối đại đoàn kết dân tộc. Vì không còn lệ thuộc vào tính giai cấp nữa nên chúng ta sẽ chọn được cán bộ lãnh đạo là các “nguyên khí quốc gia” và trung thành tuyệt đối với tổ quốc với nhân dân với Đảng....Không thể kể hết những lợi ích khi chúng ta thật sự thành thật

Trong khi đó những người Bảo Thủ coi sự thống trị của CN Mác-Lênín quan trọng gấp nghìn lần sự hùng cường của Dân tộc. Họ ép Đảng ta phải xây dựng một nền kinh tế hết sức quái thai, hết sức mù mờ:” Nền Kinh tế Thị trường định hướng XHCN”. Đối với quân đội ta chúng cố gắng nèo kéo thêm một nhiệm vụ mơ hồ :chiến đấu vì CNXH. Chúng lập lờ giữa kẻ thù của Dân Tộc với kẻ thù của ý thức hệ Macxit. Chính vì chỉ quan tâm tới sự thống trị của CN Mác-Lênin chúng đã làm Đảng ta không phân biệt được bạn và thù. Chúng có thể bán những mảnh đất thiêng liêng của Tổ Quốc cho Trung Quốc kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam (như Tổng bí thư Lê Duẩn khẳng định) chỉ vì chúng cùng ý thức hệ Macxit với chúng và đàn áp thâm độc những người yêu nước cháy bỏng nhưng chống Trung Quốc chống CN Mác-Lênin....Vì lẫn lộn giữa kẻ thù của dân tộc và kẻ thù ý thức hệ nên 10 tỉnh đã cho Trung Quốc thuê đất rừng, thuê bờ biển với diện tích bằng một tỉnh của nước ta trong thời hạn 50 năm....Chúng càng ngày càng thấy rằng cái cơ chế XHCN này là môi trường vơ tiền của nhân dân vào túi dễ nhất....Tuy nhiên chúng cũng thấy rằng không ai còn tin vào CN Mác-Lênin nữa nên chúng phải đem vị thánh của dân tộc, Bác Hồ vô cùng kính yêu làm tấm lá chắn cho CNMác-Lênin....Chúng ép Đảng ta phải ghi vào điều lệ Đảng rằng: Nền tảng tư tưởng của Đảng là CN Mác-Lênin để dễ bề quy kết các đảng viên trung thực, hết long vì Đảng vì dân tộc Việt Nam nhưng chống CN Mác-Lênin là chống Đảng

Bằng các lập luận trên chúng ta khẳng định Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguyên nhân sâu xa gây nên sự mất đoàn kết trong Đảng do đó là nguyên nhân gây nên sự mất đoàn kết trong nhân dân cần loại bỏ

Lấy CN Dân Tộc làm nền tảng tư tưởng của Đảng là con đường duy nhất đúng đắn làm Đảng ta trở thành trung tâm của khối đại đoàn kết và lòng yêu nước nồng nàn của 84 triệu người dân sống trên mảnh đất hình chữ S và xứng đáng là người cầm lái độc tôn đối với dân tộc Việt Nam đưa dân tộc Việt Nam tiến lên đài vinh quang sánh vai với các cường quốc 5 châu .

Một câu hỏi tất yếu sẽ được đặt ra :CN Dân Tộc là CN như thế nào?

Sẽ tốn rất nhiều giấy mực để mô tả đầy đủ về CN Dân Tộc Việt Nam nên tôi chỉ nói vắn tắt các nét chính của CN này.

-CN Dân tộc Việt Nam là sự kết tinh của truyền thống giữ nước và dựng nước của dân tộc Việt Nam suốt từ thời các vua Hùng đến nay, đặc biệt là giai đoạn chống Pháp chống Mỹ và chống Trung Quốc xâm lược để giải phóng dân tộc; giai đoạn đổi mới để xây dựng đất nước

-CN Dân tộc Việt Nam là sự tiếp thu có chọn lọc những chủ nghĩa Dân tộc đã xuất hiện trên thế giới như ở Đức, Nhật, Do thái, Hàn Quốc v.v...

Tóm lại CN Dân tộc Việt Nam coi 84 triệu người VN như một cơ thể hoàn chỉnh. Trong đó bộ não bao gồm những người lao động chủ yếu bằng đầu như các nhà chính trị, các tướng lĩnh các trí thức, các chủ doanh nghiệp, văn nghệ sỹ.v.v...; chân, tay là công nhân, nông dân, bộ đội , công an; Trái tim là CN Dân Tộc VN....

Trên đây là các nét chính, việc hoàn thiện nó là nhiệm vụ của các nhà Triết học Việt Nam. Tuy nhiên chúng ta không nên cầu toàn. Chúng ta sẽ hoàn thiện dần... Rồi đây chúng ta còn phải xây dựng một triết học của chính dân tộc mình, một triết học “Made in Vietnam”....

Khi đặt CN Dân Tộc làm nền tảng tư tưởng, Đảng ta sẽ khơi dạy dòng mắu dân tộc mạnh mẽ của 84 triệu người dân VN. Vì đã laọi bỏ tính giai cấp, chúng ta luôn luôn chọn được những người giỏi nhất, đức độ nhất vào các vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng. Đảng viên sẽ là những người giỏi nhất trong toàn dân (chứ không chỉ ở giai cấp Công,Nông)....Lúc đó Đảng là dân tộc và dân tộc chính là Đảng

Vì chỉ còn quan tâm tới lợi ích, tới sự tồn vong của dân tộc, Đảng ta sẽ có một cái nhìn mạch lạc và thấu đáo để xây dựng chiến lược bảo vệ Tổ Quốc. Chúng ta sẽ dễ dàng chỉ ra Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam (như Tổng Bí thư Lê Duẩn nói), dễ ràng nhìn thấy Nga, Mỹ, Nhật, EU là các đồng minh có thể giúp ta về kinh tế và quân sự khi chúng ta bị Trung Quốc xâm lược mặc dù các nước đó là "đế quốc sài lang". Chúng ta sẽ dễ dàng kết hợp được sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. ...Chúng ta sẽ dễ dàng chỉ ra rằng để có nền kinh tế hùng cường chúng ta không thể dàn hàng ngang tiến lên mà phải tập trung vào những mũi nhọn như CN Thông tin, Đóng Tầu v.v.....và rằng nông nghiệp không phải là mũi nhọn, và rằng phải ngăn chặn triệt để hàng lậu từ Trung Quốc....rằng mô hình kinh tế của nước ta phải là mô hình của CN Tư bản ....

.......

Không thể kể hết những ưu thế tuyệt đôi khi lấy CN Dân Tộc làm nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chính vì những lẽ trên Đảng ta phải

Đổi tên Đảng Cộng Sản Việt Nam thành Đảng Lao Động Việt Nam; đổi tên nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thành nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà như Bác Hồ đã chọn

Đảng ta cần phải làm những điều trên ngay trong đại hội lần thứ XI này để Đảng ta thật sự vững mạnh, để dân tộc Việt Nam thật sự đoàn kết, để bạn bè quốc tế thật sự hiểu về ta và giúp đỡ ta, để cho nạn tham nhũng bị mất đi, để cho các cán bộ Đảng và Nhà nước là những người tài giỏi nhất, hết lòng vì dân vì nước và cuối cùng là để Việt Nam mau chóng trở thành một cường quốc

Trên đây là những ý kiến vô cùng tâm huyết của tôi, một đảng viên 30 tuổi Đảng, một cựu chiến binh đã chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị năm 1972 và được kết nạp vào Đảng ngay trên mâm pháo năm 1973, một người tuyệt đối trung thành với dân tộc Việt Nam, tuyệt đối trung thành với Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, luôn luôn đau đáu những suy tư về đất nước, về Đảng để nghĩ cách làm cho dân tộc ta hùng mạnh. Tuy nhiên tôi không ít lần bị các đồng chí công an quy là phản động, là bất mãn với chế độ, là công thần vì cậy bố là người có công nuôi các lãnh tụ như Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt....Mặc dù vậy tôi thề sẽ vẫn kiên trì thuyết phục và đấu tranh đến hơi thở cuối cùng để loại bỏ CN Mác-Lê nin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta và thay vào đó là CN Dân Tộc. Tôi tin tưởng rằng có 80% đảng viên trong Đảng ủng hộ tôi

Kính mong các đồng chí đọc kỹ và xem xét.

Hà Nội, ngày 16-3-2010

Người viết

ĐỖ XUÂN THỌ

Email:tsdoxuantho@gmail.com

Điện thoại:0914119002

Địa chỉ cơ quan:Viện Khoa học và Công nghệ GTVT, 1252 Đường Láng

Đống Đa Hà Nội

Địa chỉ nhà riêng:Số nhà 12 ngõ 1142 Đường La Thành Hà Nội

http://songythuc.multiply.com/journal