Tuesday, April 13, 2010

Tôi yêu Tổ quốc tôi mà tôi bị bắt



Những ngày này
Tổ quốc là cá nằm trên thớt
Tổ quốc là con giun đang bị xéo quằn
giặc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa
Biển đông bị bóp cổ
Sóng bạc đầu nhe nanh sư tử
biển đập nát bờ
Hồng Hà, Cửu Long giãy giụa thở ra máu

Tuổi trẻ mít-tinh
đả đảo Trung Quốc xâm lược!
Sông Bạch Đằng tràn lên phố biểu tình
Sông Bạch Đằng bị bắt
ải Chi Lăng theo tuổi trẻ xuống đường
ải Chi Lăng bị bắt
gò Đống Đa nơi giặc vùi xương
sẽ bị bắt nếu biểu tình chống giặc!

Có nơi đâu trên thế giới này
như Việt Nam hôm nay
Yêu nước là tội ác
biểu tình chống xâm lăng bị “Nhà Nước” bắt?

Các anh hùng dân tộc ơi!
Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo ơi!
nếu sống dậy, các Ngài sẽ bị bắt!
ai cho phép các Ngài đánh giặc phương Bắc?
sao vua Trung Hoa lại chiếm nước Trung Hoa:
“Bên kia biên giới là nhà
Bên đây biên giới cũng là quê hương”
Thơ Tố Hữu năm nào từng xóa dấu biên cương!

Đường ra biển dân tộc ta đang bị tắc
Phải giành lại Hoàng Sa từ anh bạn Thiên triều
tôi yêu Tổ Quốc tôi mà tôi bị bắt!
Tổ Quốc yêu Người phải lấy máu mà yêu!

Trần Mạnh Hảo

http://www.hoilatraloi.blogspot.com/

Văn hóa blog: Cuộc khởi nghĩa của đám đông


Trong bất cứ trường hợp nào, thì blog, nơi chứng kiến các cuộc đồng khởi của các độc giả vốn thầm lặng, vẫn là một diễn tập tốt, từ đó, chúng ta hy vọng nhìn thấy sự hình thành và phát triển của một thứ văn hoá dân chủ, vốn là một trong những điều chúng ta cần nhất hiện nay.


Nguyễn Hưng Quốc

Gần đây, mỗi lần tôi nói chuyện với bạn bè hay có khi chỉ là người quen tình cờ gặp gỡ đâu đó, đề tài hầu như bao giờ cũng xoay quanh các bài viết của tôi trên blog này. Thì cũng bình thường. Trước kia, cũng thế. Phần lớn các bài viết của tôi đăng hoặc trên báo in hoặc trên website đều có khá nhiều phản hồi và cũng là đề tài trong các buổi chuyện gẫu. Nhưng từ ngày tôi viết trên blog thì khác. Người ta không chỉ nói về bài viết của tôi. Mà còn, có khi, nhiều hơn, về các ý kiến phản hồi ở dưới mỗi bài. Nhiều người khoe là mỗi ngày họ vào blog không phải một mà là hai, ba, hoặc, thậm chí, năm bảy lần. Dĩ nhiên không phải để đọc lại bài viết của tôi. Mà là để theo dõi các ý kiến đóng góp của bạn đọc. Và người ta nhớ tên một số người thường đóng góp ý kiến. Người ta bình luận. Người ta phân tích không những cái đúng cái sai mà còn cả các hậu ý, có khi là hậu ý chính trị, đằng sau các ý kiến ấy. Nhiều buổi nói chuyện để lại trong tôi ấn tượng là người ta không quan tâm mấy đến bài viết của tôi mà chỉ tập trung vào các ý kiến của người đọc.

Đó là điều lạ.

Tôi làm báo từ lâu, ngay từ lúc mới rời Việt Nam sang định cư tại Pháp. Sang Úc, tôi cũng làm tờ Việt (1998-2001), tờ tạp chí văn học tiếng Việt thực sự chuyên nghiệp đầu tiên tại Úc. Ngoài ra, bài vở của tôi cũng được đăng tải trên hầu hết các tạp chí văn học ở hải ngoại. Rồi tôi viết sách. Viết khá nhiều. Và tất cả, theo các nhà xuất bản, đều thuộc loại bán được. Có thể nói, sau hơn hai mươi năm cầm bút, tôi có một lượng độc giả nhất định, chắc chắn không ít hơn bất cứ một cây bút chuyên về lý luận hay phê bình văn học nào. Vậy mà, trong một thời gian rất dài, tất cả các độc giả ấy đều giấu mặt, xa cách, vô danh, có cảm tưởng không hề hiện hữu bao giờ.

Thì, thật ra, cũng có một số người lên tiếng đâu đó. Một số người viết thư hoặc gửi email đến tôi để bày tỏ cảm nghĩ này nọ. Nhưng, thứ nhất, con số ấy không nhiều; thứ hai, họ vẫn lên tiếng với tư cách cá nhân, thứ ba, hầu hết, nếu không nói là tất cả, đều là những người tán đồng hoặc ít nhiều mến mộ tôi; và thứ tư, họ vẫn là những độc giả cô đơn, khuất lánh: Tôi nghe họ như nghe những tiếng thầm thì, từ xa. Có khi xa lắc. Và chậm. Có khi thật chậm, nhiều lúc cả mấy năm, thậm chí, hàng chục năm sau khi bài viết đã đăng hoặc sách đã xuất bản. Nghe như những tiếng vọng muộn màng của một hòn đá ném vào hư không. Thăm thẳm.


Bây giờ thì khác. Độc giả không còn là một đám đông vô danh và thầm lặng nữa. Và không phải chỉ có những người ái mộ. Sau mỗi bài viết có khi có cả hàng chục, hay hàng trăm người phát biểu. Trong số đó, có một số người tôi biết; còn lại: hoàn toàn không. Không phải ai cũng đồng ý với tôi. Nhiều người phản bác, thậm chí, lúc nào cũng phản bác. Không phải ai cũng dịu dàng, lịch sự. Nhiều người rất sân si, đầy những hằn học. Điều thú vị là không phải ai cũng góp ý với tôi. Người ta còn góp ý với nhau. Cãi cọ nhau. Vô tình hình thành một trận tuyến giữa các độc giả.


Trên sân khấu văn học ngày xưa, giữa các tạp chí và sách, chỉ có một mình tác giả. Nói là “sân khấu”, nhưng sân khấu ấy lại chìm khuất trong bóng tối. Người ta viết văn một mình. Lúc nào cũng một mình. Ngay cả khi, trong một số tác phẩm nào đó, viết chung với bạn bè hay đồng nghiệp, thì mỗi người vẫn viết một mình. Mỗi người ngồi trước một computer hay laptop. Chung quanh là sách. Chỉ có sách. Bài viết hay sách in ra, có khi chìm lỉm trong im lặng mênh mông. Tôi biết nhiều người cầm bút thèm nghe một hồi âm, kể cả một tiếng chửi: Cũng không có. Người ta băn khoăn: Độc giả ở đâu rồi nhỉ?


Độc giả vẫn có đấy chứ. Đông nữa là khác. Hàng triệu, hàng chục triệu người. Nhưng họ chỉ là một đám đông vô danh và vô thanh. Có thể thấy điều đó ngay trong tiếng Việt: chữ “tác giả” bao giờ chỉ hàm ý số ít. Muốn nhấn mạnh đến số nhiều, chúng ta phải thêm số đếm (1,2,3..) hay các chữ “các”, “những”… phía trước. Chữ “độc giả”, ngược lại, bao giờ cũng hàm ý chỉ số nhiều. Muốn nhấn mạnh đến số ít, chúng ta phải thêm chữ “một” phía trước. Như vậy, có một nghịch lý: tác giả là một cá nhân nhưng lại là một công chúng (public) sừng sững trên sân khấu, trở thành trung tâm của mọi sự chú ý, trong khi công chúng thực sự, tức đám đông độc giả, thì lại là những gì hết sức riêng tư (private), hết sức âm thầm và lặng lẽ. Không ai nghe tiếng của họ cả.

Bây giờ thì khác.

Bây giờ, trên các trang blog, độc giả đồng khởi. Đúng là một cuộc khởi nghĩa của đám đông, vốn cả hàng ngàn năm nay, bị xem là thầm lặng, vô danh và vô thanh. Đọc xong, người ta không còn thụ động gật gù hay lắc đầu thở ra. Người ta có thể lên tiếng ngay. Đang ngồi trước computer nối mạng, chỉ cần vài ba động tác nhanh gọn, ý kiến của họ xuất hiện, có khi gần như ngay tức khắc. Và, điều đáng nói là, những ý kiến ấy cũng được đọc không kém gì các bài viết chính của các blogger. Họ cũng có người đọc của họ. Ý kiến của họ có khi cũng trở thành đề tài để bàn tán sôi nổi, trên blog cũng như ngoài xã hội. Như vậy, trên blog, không những tác giả mà cả độc giả cũng có độc giả.

A! Đó mới chính là điều lý thú: Độc giả cũng có độc giả.

Trước, những tưởng độc giả là đặc quyền của tác giả. Chỉ có tác giả mới có độc giả. Chỉ có những tác giả nổi tiếng mới có nhiều độc giả. Và chỉ có những tác giả lớn, thật lớn, mới có những độc giả trung thành, lâu dài, thuộc nhiều thế hệ. Bây giờ, trên blog, lạ chưa, ngay cả độc giả cũng có thể có độc giả của họ. Điều đó không những có thể làm cho các cụ Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du sửng sốt. Mà ngay các vị vừa mới qua đời cách đây không lâu, từ Nguyễn Tuân đến Mai Thảo, từ Trần Dần đến Thanh Tâm Tuyền, có lẽ không thể nào tưởng tượng nổi.


Khi độc giả cũng có độc giả, ranh giới giữa tác giả và độc giả có còn không? Còn, dĩ nhiên. Nhưng rất mờ. Trên nhiều blog, kể cả blog của tôi, một số độc giả cũng lưu lại trong ký ức các độc giả khác một dấu ấn nhất định. Họ cũng trở thành những tên tuổi nhất định. Dĩ nhiên chỉ là tên tuổi ảo. Những tên tuổi ấy còn đọng lại trong ký ức tập thể lâu hay mau thì còn tuỳ. Chưa thể biết được. Có thể đó là điểm khác nhau giữa một tác giả-độc giả và một tác giả thực sự.


Nhưng trước mắt thì chúng ta có thể nhìn thấy có một cái gì giống như một diễn đàn hết sức dân chủ trên mạng lưới internet, ở đó, viết văn thực sự là tiến hành một cuộc đối thoại. Là đối thoại, mọi tiếng nói đều bình đẳng. Tác giả chỉ còn là người gợi đề tài và gợi ý chứ không phải là người quyết định. Chính vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu cho hai đặc điểm nổi bật nhất của blog là tính chất phi tâm (non-centralized) và phi-đẳng cấp (non-hierarchical). Và cũng chính vì thế, tôi tin blog là nơi diễn tập của tinh thần dân chủ.

Người ta hay nói các chế độ dân chủ ở phương Tây vững mạnh vì văn hoá dân chủ đã được bén rễ sâu rộng không phải chỉ trong giới làm chính trị hay quản trị mà còn cả trong quần chúng: Mọi người đều biết các quyền và giới hạn của các quyền mà mình có. Quan cũng như dân. Và một số người lo lắng: Việt Nam, nếu có được một chế độ dân chủ thì chưa chắc đã đứng vững được khi chính người dân, hầu hết người dân, chưa bao giờ được rèn luyện trong một nền văn hoá dân chủ.


Những quan niệm như vậy còn có thể tranh luận dài dài. Cũng như chuyện con gà và cái trứng, cái nào có trước?

Nhưng theo tôi, trong bất cứ trường hợp nào, thì blog, nơi chứng kiến các cuộc đồng khởi của các độc giả vốn thầm lặng, vẫn là một diễn tập tốt, từ đó, chúng ta hy vọng nhìn thấy sự hình thành và phát triển của một thứ văn hoá dân chủ, vốn là một trong những điều chúng ta cần nhất hiện nay.

Và mai sau nữa.


Nhìn vấn đề như thế, chúng ta cũng sẽ thấy dễ hiểu là tại sao chính quyền, các chính quyền độc tài, lại sợ các blog.

Mà sợ cũng phải.

Bạn có đồng ý vậy không?


http://www1.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/blog-cuoc-khoi-nghia-04-12-2010-90627004.html

Tin khẩn: Tạ Phong Tần bị bắt

Tin khẩn: Tạ Phong Tần bị bắt

VRNs (13.04.2010) – Saigon – Lúc 8:00 am, ngày 13/04/2010, cô Tạ Phong Tần vừa ra khỏi nhà, bị một nhóm công an không mặc sắc phục áp đến bắt giải đi đâu không ai biết. Có người nhận diện được, những người này là công an tp. HCM. Nguồn tin nay do chủ nhà nơi cô Tạ Phong Tần trọ cho biết.

Được biết cô Tạ Phong Tần trước đây là công an, sau đó giải nghệ học luật để làm luật sư. Từ tháng 8/2008, khi cô là phụ tá cho luật sư Lê Trần Luật trong vụ tám giáo dân bị bắt oan của giáo xứ Thái Hà, cô đã nhận ra sự hiện diện can trường của Chúa nơi các dân oan. Cô đã gia nhập Công giáo và được nhận bí tích thanh tẩy năm 2009.

Xin anh chị em cầu nguyện cho cô Maria Tạ Phong Tần được Chúa giữ gìn trong những lúc gặp nạn này.

NĐT



http://www.chuacuuthe.com/tin-viet-nam/tin-kh%e1%ba%a9n-t%e1%ba%a1-phong-t%e1%ba%a7n-b%e1%bb%8b-b

Monday, April 12, 2010

Thực tại và nhận thức - Luật sư Lê Trần Luật

Một lần làm việc gần đây nhất, tôi được sắp xếp gặp một vị lãnh đạo của cơ quan an ninh. Mặc dù cuộc gặp diễn ra tại trụ sở của công an, nhưng vị lãnh đạo ấy nói: “Không phải làm việc, không cần biên bản, bên anh chỉ muốn nói chuyện với em thôi”.

Vị ấy bắt đầu câu chuyện: “Vì những việc làm của em mà anh, cùng nhiều anh em khác trong cơ quan an ninh phải lặn lội tìm hiểu, tiếp xúc với gia đình, bạn bè, người thân của em, thậm chí cả những người bạn thời niên thiếu của em. Bản thân anh dù rất bận nhưng cũng đã ngồi hàng giờ để nghe bạn bè của em nói về em. Anh không thể hiểu được vì sao em lại có những nhận thức sai lệch về chế độ này, có những tư tưởng chống đối, và hành động cổ vũ cho các phần tử phản động. Em từ nhỏ được học hành và lớn lên trong chế độ này, gia đình hoàn toàn không có nợ máu với chính quyền, bản thân em cũng không bị chính quyền o ép hay trù dập, vậy thì tại sao?”

Tôi ngồi im lặng, vị ấy tiếp tục: “ Em cũng như anh phải lo cho gia đình, cho vợ con. Em nghĩ đi, em từ một luật sư với nhiều văn phòng, nhiều nhân viên, nhiều khách hàng, tiền bạc không thiếu, ngày giờ này em không có một chiếc xe để đi, vợ con khổ sở là tại sao, em phải nhìn thấy điều đó”

Tôi buộc miệng nói : “ Tại chính quyền”. Vị ấy bảo: “Em vẫn không nhận ra, nếu em làm luật sư như bao luật sư khác thì bên anh đụng đến em làm gì.”

Thông thường, sau những buổi làm việc với an ninh tôi chẳng nghĩ gì, nhưng lần này tôi bắt đầu bâng khuâng và suy nghĩ nhiều. Không phải là tôi suy nghĩ mình có sai lầm hay không, mà tôi suy nghĩ tại sao mình có những nhận thức về chế độ như hiện nay. Cơ sở nào, nguyên nhân nào, duyên cớ nào làm cho mình có những nhận thức như vậy. Tôi đâu có bị thế lực thù địch nào tác kích. Tôi search trên google hai từ “nhận thức”, google đã đưa tôi trở về với phép biện chứng duy vật của những người Mac-xit.

Tôi cũng như hàng triệu người dân Việt Nam được giáo dục về một chế độ tốt đẹp nhất của loài người. Mọi người đều được học như tôi về lịch sử Đảng, về cuộc chiến thần thánh giải phóng dân tộc, về tấm gương đạo đức sáng ngời của Hồ Chí Minh, về văn học giai đoạn cách mạng, về một đất nước giàu tài nguyên thiên nhiên v...v...Hồi đó, một thầy giáo địa lý nói rằng: “Sở dĩ nước ta nghèo là do cách giáo dục. Ví dụ như Nhật Bản, họ giáo dục công dân rằng nước Nhật sau chiến tranh nghèo lắm, tài nguyên thiên nhiên không có, người dân Nhật phải cố gắng để bằng các dân tộc khác”. Tôi lờ mờ nhận ra phải so sánh mới biết XHCN có tốt đẹp hay không, Việt Nam giàu có hay không.

Rồi kỳ thi đại học cũng đến, chúng tôi thường truyền tai nhau về câu chuyện : có một anh người miền trung học giỏi, năm nào anh thi đại học cũng đỗ điểm cao nhưng vì lý lịch không đi học được. Nghe đâu ba anh là sỹ quan chế độ ngụy. Lần cuối cùng anh đỗ thủ khoa, Nhà nước không còn cách nào khác là cho anh đi học. Tôi nhận ra sự vô lý!

Tôi vào trường Luật, lần đầu tiên tiếp cận với một học thuyết đồ sộ, được cho là vĩ đại và tiến bộ nhất của loài người- Chủ nghĩa cộng sản khoa học! Tôi sớm thất vọng vì tư duy tôi không chịu nổi những điều vô lý trong đó. Tôi chán các giáo điều trong học thuyết Mac- Lênin. Tôi vào thư viện đọc các loại sách “hạn chế”. Cả một kho tàng tri thức khác xa những điều tôi đã học dưới mái trường XHCN. Tôi tiếp cận được với triết học hiện sinh, chủ nghĩa anh hùng, chủ nghĩa thực dụng ..v..v.. Tôi cũng tiếp cận được với các học thuyết nhà nước trọng tài, nhà nước dịch vụ công, nhà nước gác đêm. Tôi đọc được tuyên ngôn độc lập của Mỹ, của Pháp v...v...Những tri thức bị chính quyền xếp vào danh mục “hạn chế” đó đã giúp tôi có cái nhìn tổng quan hơn về chế độ Cộng sản cũng như về chính quyền hiện tại.

Rồi hàng loạt các chính biến ở các nước Đông Âu và Liên Xô xảy ra, làm tan rã hoàn toàn khối XHCN. Tôi càng tin vào những nhận thức và lập luận của mình. Tôi ra trường bắt đầu làm luật sư và tiếp tục học thạc sỹ luật. Suốt trong khoảng thời gian mười mấy năm đó, tôi chứng kiến nhiều thực tại của xã hội Việt Nam. Những thực tại khách quan của xã hội đã tác động và củng cố những nhận thức của tôi về chế độ hiện tại.

Nhận thức của tôi là một quá trình tìm kiếm chân lý.Quá trình đó phụ thuộc vào vào tính lô-gích trong lý luận và sự kiểm chứng bằng thực tại khách quan. Nó không phụ thuộc vào sự cưỡng chế nhận thức hay những hay sự rao giảng các giáo điều. Nhận thức của tôi cũng không phụ thuộc vào những mất mát và điều kiện sống khắc nghiệt như hiện tại.

Nhận thức của tôi chỉ có thể thay đổi khi thực tại khách quan thay đổi hay đúng hơn tôi chỉ thay đổi cái nhìn với chế độ hiện tại khi và chỉ khi chế độ thay đổi.

LTL

http://lsletranluat.multiply.com/journal/item/3/3